ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHƯƠNG PHÁP NUÔI ĂN BẰNG ỐNG THÔNG MIỆNG - THỰC QUẢN NGẮT QUÃNG Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO CÓ RỐI LOẠN NUỐT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

Hoàng Hồng Quân1, Nguyễn Đăng Hải2,   , Đặng Phúc Đức2, Đỗ Đức Thuần2, Đặng Minh Đức2, Phan Thế Hà2, Nguyễn Đăng Cương2, Đỗ Văn Việt2, Bùi Văn Năm2, Trần Minh Tuân2, Đỗ Đức Anh2, Trần Hoàng Anh1, Trần Anh Kiệt1, Lê Quý Ngọc3
1 Học viện Quân y
2 Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y
3 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu và ưu, nhược điểm của phương pháp nuôi ăn bằng ống thông miệng - thực quản (oro-esophageal tube - OE) ngắt quãng (intermittent oro-esophageal tube feeding - IOTF) ở người bệnh (NB) đột quỵ não (ĐQN) có rối loạn nuốt. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không đối chứng trên 26 NB ĐQN có rối loạn nuốt, được đánh giá chức năng nuốt bằng thang điểm GUSS và được IOTF tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 3/2025 - 01/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của NB là 72,2 ± 11,1; nhóm ≥ 60 tuổi chiếm 84,6%; tỷ lệ nam/nữ là 1/1. Điểm GUSS trung bình tăng từ 11,5 ± 2,1 lên 17,5 ± 2,1 điểm sau 2 tuần can thiệp, hiệu số thay đổi là 6,1 ± 2,2 điểm (p < 0,05). Cân nặng trung bình tăng từ 54,8 ± 9,0kg lên 55,2 ± 9,4kg, nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Nồng độ protein huyết thanh thay đổi không có ý nghĩa thống kê; albumin giảm nhẹ từ 38,5 ± 4,3 g/L xuống 36,5 ± 4,4 g/L (p < 0,05). Thời gian đặt ống OE trung bình là 4,6 ± 2,6 phút; tỷ lệ đặt ống OE thành công ngay ở lần đầu là 80,8%; chiều dài ống OE trung bình là 33,1 ± 1,9cm. NB thường gặp phản xạ nôn, ho sặc và hạn chế hợp tác khi đặt ống OE. Kết luận: Phương pháp IOTF bước đầu cho thấy hiệu quả cải thiện chức năng nuốt ở NB ĐQN, thao tác đặt ống OE tương đối nhanh nhưng vẫn còn một số khó khăn khi thực hiện.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. T Sabbouh and MT Torbey. Malnutrition in stroke patients: risk factors, assessment, and management. Neurocrit Care. 2018;29(3):374-84.
2. Nguyễn Văn Đan và Trương Quang Trung. Thực trạng rối loạn nuốt và một số yếu tố liên quan trên người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;534(1).
3. JW Park, KD Park, TH Kim, et al. Comparison of tube feeding in stroke patients: Nasogastric tube feeding versus oroesophageal tube feeding: a pilot study. Medicine (Baltimore). 2019;98(30):e16472.
4. H Zeng, W Zhao, J Wu, et al. Effect of intermittent oro-esophageal tube feeding in bulbar palsy after ischemic stroke: a randomized controlled study. Stroke. 2024;55(5):1142-50.
5. Thu Hien NT, Thong TH, Tung LT, et al. Dysphagia and associated factors among patients with acute ischemic stroke in Vietnam. Ann Med Surg (Lond). 2022;84:104887:201-23.
6. W Song, M Wu, H Wang, et al. Prevalence, risk factors, and outcomes of dysphagia after stroke: a systematic review and meta-analysis. Front Neurol. 2024;15:1403610.
7. Nguyễn Mạnh Huynh, Võ Hồng Khôi. Kết quả phục hồi chức năng sớm với rối loạn nuốt ở người bệnh nhồi máu não cấp điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;506(9):105-15.
8. Stayner JL, Bhatnagar A, McGinn AN, et al. Feeding tube placement: errors and complications. Nutr Clin Pract. 2012;27(6):738-48. doi:710.1177/ 08845336124 62239. Epub 0884533612462012
9. W Juan, H Zhen, F Yan-Ying, et al. A Comparative study of two tube feeding methods in patients with dysphagia after stroke: a randomized controlled trial. J Stroke Cerebrovasc Dis. 2020; 29(3):104602.
10. Trần Hữu Thông, Nguyễn Thị Thu Hiền, Lê Thanh Tùng. Tổng quan hiệu quả tập nuốt ở người nhồi máu não cấp có rối loạn nuốt. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;537(2):210-20.