ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM HO VÀ LONG ĐỜM CỦA “THANH KIM HÓA ĐỜM THANG” TRÊN THỰC NGHIỆM

Nguyễn Đình Dũng1, , Trần Quang Minh1, Nguyễn Hùng Sơn2, Lê Hồng Phú2, Nguyễn Hoàng Ngân3, Hà Văn Giáp3, Nguyễn Việt Hưng4, Nghiêm Lê Huyền Trang5
1 Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam
2 Viện Y học cổ truyền Quân đội
3 Học viện Quân y
4 Đại học Thành Đô
5 Bệnh xá Trường Quân sự Quân khu 4

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm ho và long đờm của bài thuốc Thanh kim hóa đờm thang (TKHĐT) trên mô hình thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm có đối chứng được thực hiện trên 80 chuột nhắt trắng Swiss (18 - 20g) chia đều cho 2 mô hình: Giảm ho (n = 40) và long đờm (n = 40); mỗi mô hình gồm 4 lô (n = 10). Tác dụng giảm ho được đánh giá trên mô hình gây ho bằng hơi amoniac gồm 4 lô (chứng, codein phosphat 20 mg/kg, TKHĐT 24,0 g/kg và 48,0 g/kg); ghi nhận số cơn ho trong 5 phút trước và sau khi dùng thuốc 60 phút. Tác dụng long đờm được đánh giá bằng phương pháp Engler và Szelenyi cải tiến trên 4 lô tương tự, thay lô uống codein phosphat 20 mg/kg bằng lô uống natri benzoat 5%, thông qua định lượng nồng độ phenol đỏ trong dịch rửa khí quản. Kết quả: TKHĐT ở cả hai liều làm giảm số cơn ho từ 33,09 - 40,32% so với trước dùng thuốc và từ 35,47 - 39,57% so với lô chứng (p < 0,01), đồng thời làm tăng nồng độ phenol đỏ trong dịch rửa khí quản từ 29,63 - 37,04% so với lô chứng (p < 0,01). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai mức liều TKHĐT và các thuốc đối chứng (p > 0,05). Kết luận: Bài thuốc TKHĐT có tác dụng giảm ho và long đờm rõ rệt trên mô hình thực nghiệm, với hiệu quả không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với codein phosphat và natri benzoat ở các mô hình nghiên cứu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Shah BK, Singh B, Wang Y, Xie S, Wang C. Mucus hypersecretion in chronic obstructive pulmonary disease and its treatment. Mediators of Inflammation. 2023, 8840594. https://doi.org/10.1155/ 2023/8840594
2. Guilleminault L, Li VW, Fonseca E, Martin A, Schelfhout J, Ding H, Le Moine G. Prevalence and burden of chronic cough in France. ERJ Open Research. 2024;10(2), 00806-2023. https://doi.org/ 10.1183/23120541.00806-2023
3. Zhang, Q, Li, Y, Xiao, S, You, Y. Research progress of the classic prescription Qingjin Huatan Tang. Chinese Journal of Experimental Traditional Medical Formulae. 2021; 27(3):198-208. https://doi.org/ 10.13422/j.cnki.syfjx.20210234
4. Bộ Y tế. Dược điển Việt Nam V. Nhà xuất bản Y học. 2017.
5. Duan F, Li Y, Zhao M, Hu T, Pan X, Feng Y, Ma F, Qiu S, Zheng Y. Screening of anti-inflammatory components of Qin Jin Hua Tan Tang by a multivariate statistical analysis approach for spectrum- effect relationships. Journal of analytical methods in chemistry. 2021, 6348979. https://doi.org/10.1155/2021/6348979
6. Yang J, Shen X, Qin M, Zhou P, Huang FH, You Y, Wang L & Wu JM. Suppressing inflammatory signals and apoptosis-linked sphingolipid metabolism underlies the therapeutic potential of Qing-Jin-Hua-Tan decoction against chronic obstructive pulmonary disease. Heliyon. 2024; 10(3), e24336. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2024.e24336
7. Nair, AB, Jacob, S. A simple practice guide for dose conversion between animals and human. Journal of Basic and Clinical Pharmacy. 2016;7(2):27-31. https://doi.org/10.4103/0976-0105.177703
8. Hu JR, Jung CJ, Ku SM, Jung DH, Bashir KMI, Ku SK & Choi JS. Anti-inflammatory, expectorant, and antitussive properties of Kyeongok-go in ICR mice. Pharmaceutical biology. 2021;59(1):321-34. https://doi.org/10.1080/13880209.2021.189215
9. Engler H, Szelenyi I. Tracheal phenol red secretion, a new method for screening mucosecretolytic compounds. Journal of Pharmacological Methods. 1984;11(3):151-7. https://doi.org/10.1016/ 0160-5402(84) 90033-0.
10. Nguyễn Đình Dũng, Trần Quang Minh, Nguyễn Hoàng Ngân. Đánh giá tác dụng chống viêm đường hô hấp của bài thuốc TKHĐT trên thực nghiệm. Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam. 2025;63 (04):8-13. https://doi.org/10.60117/ vjmap.v63i04.433