ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN CHOLESTEATOMA TAI GIỮA BẨM SINH VÀ MẮC PHẢI

Chử Thị Hồng Ninh1, Nguyễn Minh Tâm1, Đoàn Thi Hồng Hoa2, Đặng Tiến Trường1,
1 Học viện Quân y
2 Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả và so sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) cholesteatoma tai giữa bẩm sinh (BS) và mắc phải (MP). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 121 BN được chẩn đoán và điều trị cholesteatoma tai giữa, gồm 80 BN cholesteatoma MP (nhóm MP) và 41 BN cholesteatoma BS (nhóm BS) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 02/2023 - 12/2024. Các triệu chứng lâm sàng, thính lực và hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) xương thái dương được phân tích và so sánh giữa hai nhóm. Kết quả: Nhóm BS chủ yếu gặp ở độ tuổi từ 3 - ≤ 7 tuổi, trong khi nhóm MP chủ yếu ≥ 13 tuổi. Nhóm BS biểu hiện lâm sàng kín đáo (nghe kém, ù tai, đau tai đều chiếm 9,76%), còn nhóm MP có triệu chứng rõ rệt hơn (nghe kém chiếm 92,5%, ù tai chiếm 78,75% và chảy mủ tai chiếm 72,5%), vớip < 0,01. Thính lực bình thường chiếm ưu thế ở nhóm BS (70,73%), trong khi 95,0% BN nhóm MP bị giảm thính lực, chủ yếu kiểu dẫn truyền; khoảng cách khí-xương (ABG) > 40dB gặp nhiều hơn ở nhóm MP (p < 0,01). Trên hình ảnh CLVT, cả hai nhóm có tổn thương chủ yếu tại thượng nhĩ (> 90%), khác biệt không có ý nghĩa. Tuy nhiên, tình trạng thông bào xương chũm có sự khác biệt: Nhóm BS chủ yếu là thông bào tốt (75,6%), còn nhóm MP chủ yếu là đặc ngà (81,3%), với   p < 0,01. Kết luận: Hai nhóm cholesteatoma có sự khác biệt rõ rệt về biểu hiện lâm sàng, thính lực và tình trạng thông bào xương chũm trên hình ảnh CLVT. Điều này có giá trị trong chẩn đoán phân biệt và định hướng điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Yung M, Trabalzini F, İncesulu A, et al. EAONO/JOS joint consensus statements on the definitions, classification and staging of middle ear cholesteatoma. Journal of International Advanced Otology. 2017; 13(1):1-8.
2. Kalcioglu MT, Bayar Muluk N, Jenkins HA. Neurotology Updates. Springer, 2024.
3. Mourabit FE L, Loudghiri M RHNIA A, et al. Atypical presentation of congenital cholesteatoma in an adult case. Medi Clin Case Rep J. 2024; 2(4):510-513.
4. Nguyễn Hữu Luật, Đào Trung Dũng. Đặc điểm nội soi tai và cắt lớp vi tính cholesteatoma bẩm sinh tai giữa ở trẻ em. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2024; 183(10):237-246.
5. James AL. Cholesteatoma severity determines the risk of recurrent pediatric cholesteatoma more than the surgical approach. Journal of Clinical Medicine. 2024; 13(3):836.
6. Jiang H, Wu C, Xu J, et al. Bacterial and fungal infections promote the bone erosion progression in acquired cholesteatoma revealed by metagenomic next-generation sequencing. Frontiers in Microbiology. 2021; 12:761111.
7. Boualam Y, Sbai A, Benfadil D, Lachkar A, El Ayoubi El Idrissi F. Bilateral congenital cholesteatoma in a 13-year-old boy. Cureus. 2025; 17(8).
8. Phạm Minh Đông, Phạm Thanh Thế, Hồ Lê Hoài Nhân. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị cholesteatoma xương thái dương bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2023 - 2025. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2025; (85):129-135.
9. Iqbal IZ, Watson C. A study of mastoid pneumatisation and the presence of cholesteatoma in 393 patients. Journal of Laryngology & Otology. 2015; 130(1):66-68.
10. Cavaliere M, Ugga L, Monfregola A, et al. Temporal bone CT-based anatomical parameters associated with the development of cholesteatoma. La Radiologia Medica. 2023; 128(9):1116-1124.