Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm <p>Học viện Qu&acirc;n y l&agrave; cơ sở đ&agrave;o tạo đại học, sau đại học ng&agrave;nh Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc ph&ograve;ng với 3 nhiệm vụ ch&iacute;nh trị trung t&acirc;m l&agrave; đ&agrave;o tạo c&aacute;n bộ qu&acirc;n y c&aacute;c cấp, đội ngũ nh&acirc;n vi&ecirc;n y tế phục vụ sự nghiệp c&ocirc;ng nghiệp h&oacute;a, hiện đại h&oacute;a đất nước; điều trị v&agrave; nghi&ecirc;n cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học qu&acirc;n sự; kh&ocirc;ng ngừng phấn đấu với vị tr&iacute; của một trong những trường đại học y dược h&agrave;ng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở th&agrave;nh trung t&acirc;m đ&agrave;o tạo nh&acirc;n lực, nghi&ecirc;n cứu khoa học, ph&aacute;t triển v&agrave; ứng dụng c&aacute;c kỹ thuật ti&ecirc;n tiến trong c&aacute;c lĩnh vực y học qu&acirc;n sự v&agrave; y học chung của quốc gia v&agrave; quốc tế.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự l&agrave; cơ quan ng&ocirc;n luận th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Học viện Qu&acirc;n y, trực thuộc Ban Gi&aacute;m đốc Học viện; được cấp Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 345/GP-BVHTT ng&agrave;y 08/8/2002 v&agrave; xuất bản 02 th&aacute;ng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn c&oacute; thể trao đổi với c&aacute;c đồng nghiệp tr&ecirc;n to&agrave;n thế giới về th&agrave;nh tựu nghi&ecirc;n cứu y học, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự đ&atilde; đề nghị Tổng cục Ch&iacute;nh trị cho ph&eacute;p tạp ch&iacute; được đưa c&aacute;c b&agrave;i viết đ&atilde; đăng tải l&ecirc;n mạng internet v&agrave; đ&atilde; được sự đồng &yacute; của Thủ trưởng Tổng cục Ch&iacute;nh trị (theo c&ocirc;ng văn số 440/VP của Văn ph&ograve;ng Tổng cục ng&agrave;y 16/5/2005). Đ&acirc;y l&agrave; bước ph&aacute;t triển quan trọng của Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự, tạo điều kiện cho tạp ch&iacute; được trao đổi với c&aacute;c tạp ch&iacute; c&oacute; uy t&iacute;n tr&ecirc;n thế giới. Ng&agrave;y 21/06/2006, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu ti&ecirc;n cho tới nay, Tạp ch&iacute; Y Dược Qu&acirc;n sự đ&atilde; được cấp ph&eacute;p sửa đổi n&acirc;ng kỳ xuất bản l&ecirc;n 9 số/năm (Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 1149/GP-BTTTT năm 2012 v&agrave; số 594/GP-BTTTT năm 2022) v&agrave; c&aacute;c số Tạp ch&iacute; đặc biệt cho c&aacute;c Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm n&acirc;ng cao chất lượng tạp ch&iacute; hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp ch&iacute; đ&atilde; x&acirc;y dựng website ri&ecirc;ng để xuất bản online v&agrave; gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o, đồng thời đ&atilde; thực hiện phản biện k&iacute;n 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự lu&ocirc;n nỗ lực khẳng định thương hiệu của m&igrave;nh, đ&oacute;ng g&oacute;p t&iacute;ch cực phục vụ c&ocirc;ng t&aacute;c đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; điều trị. Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự thực sự trở th&agrave;nh cơ quan ng&ocirc;n luận về chuy&ecirc;n m&ocirc;n khoa học, đ&agrave;o tạo v&agrave; điều trị của Học viện Qu&acirc;n y, s&aacute;t c&aacute;nh c&ugrave;ng c&aacute;c đơn vị trong đội h&igrave;nh Học viện viết n&ecirc;n những trang v&agrave;ng th&agrave;nh t&iacute;ch hơn 70 năm x&acirc;y dựng v&agrave; trưởng th&agrave;nh của Học viện Qu&acirc;n y.</p> vi-VN tcydhqs@vmmu.edu.vn (Journal of Military Pharmaco-medicine) tcydhqs@vmmu.edu.vn (VOJS) T4, 28 Thg 1 2026 01:08:40 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN ĐẾN CHẤT LƯỢNG HÀ THỦ Ô ĐỎ CHẾ (Fallopia Multiflora Thunb.) https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1465 Mục tiêu:Đánh giá ảnh hưởng của quá trình chế biến đến chất lượng Hà thủ ô đỏ chế, từ đó xây dựng quy trình chế biến chuẩn hóa cho Hà thủ ô đỏ (FM). Phương pháp nghiên cứu:Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố chế biến như dung môi, thời gian ngâm, phương pháp và thời gian hầm đến chất lượng Hà thủ ô đỏ chế. Các chỉ tiêu đánh giá gồm hàm lượng polyphenol toàn phần (TPC), stilben glycosid, physcion (PS), hoạt tính chống oxy hóa (SC) và hiệu suất chế biến. Các hợp chất được định lượng bằng phương pháp UV-Vis và HPLC, SC đánh giá bằng phương pháp DPPH in vitro. Kết quả: Quy trình chế biến tối ưu xác định được là ngâm rễ FM trong nước cám gạo 24 giờ ở nhiệt độ phòng, sau đó hầm với nước sắc đậu đen trong 12 giờ ở 75 ± 5°C, tiếp theo là giai đoạn tẩm - sấy trong 48 giờ ở 40°C. Tỷ lệ FM:đậu đen là 1:1 (kl/kl). Quy trình này giúp cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng SC và giảm hàm lượng các thành phần có khả năng gây độc. Kết luận:Đã đánh giá được sự ảnh hưởng của dung môi chế biến, phương pháp chế biến và thời gian chế biến đến chất lượng Hà thủ ô đỏ chế, từ đó xây dựng quy trình chế biến thích hợp cho FM. Nguyễn Thị Hồng Thanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1465 ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM HO, LONG ĐỜM CỦA CAO CHIẾT MẠCH MÔN (Ophiopogon japonicus) TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1484 Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm ho và long đờm của cao chiết Mạch môn trên chuột nhắt trắng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên chuột nhắt trắng chủng Swiss, chia thành 4 nhóm (n = 8 con/nhóm): Nhóm đối chứng, nhóm uống codeine 30 mg/kg và 2 nhóm uống cao chiết Mạch môn liều 2,4 g/kg hoặc 7,2 g/kg trong 3 ngày liên tục. Cơn ho được gây bằng amoniac; theo dõi thời gian tiềm tàng xuất hiện cơn ho và số cơn ho trong 5 phút. Phenol đỏ được tiêm để định lượng bài tiết đờm. Kết quả: Cao chiết Mạch môn giúp giảm số cơn ho 46% (2,4 g/kg) và 39% (7,2 g/kg), tăng phenol đỏ 1,4 - 1,6 lần. Hiệu quả này chưa thể hiện rõ đáp ứng theo liều lượng. Kết luận: Cao chiết Mạch môn có tiềm năng giảm ho và long đờm ở chuột nhắt trắng chủng Swiss. Hoàng Anh Tuấn, Mai Phương Thanh, Phan Hồng Minh, Nguyễn Minh Ngọc , Nguyễn Thúc Thu Hương, Trần Thị Hồng Ngọc, Hoàng Nam Nhật Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1484 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO KỸ NĂNG NGOẠI KHOA CƠ BẢN DỰA TRÊN HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN ĐỘC LẬP TIN CẬY: ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TẠI BỘ MÔN PHẪU THUẬT THỰC HÀNH, THỰC NGHIỆM, HỌC VIỆN QUÂN Y https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1716 Mục tiêu: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng ngoại khoa cơ bản dựa trên “Hoạt động chuyên môn độc lập tin cậy” (EPAs); đánh giá một số kết quả bước đầu triển khai. Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp tài liệu làm cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo; mô tả kết quả học tập và ý kiến của 334 học viên khóa DH56 được triển khai áp dụng các giải pháp tại Bộ môn Phẫu thuật thực hành, thực nghiệm (PTTH, TN), Học viện Quân y. Kết quả: Xây dựng được 4 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo dựa trên EPAs. Kết quả thi M17 của khoá DH56: Giỏi 21,6%, Khá 32,6%, trung bình 43,1%, trượt 2,7%, khác biệt so với khoá DH55 (p< 0,01). > 50% học viên thấy EPAs giúp chuẩn hóa nội dung, tăng gắn kết lý thuyết - thực hành, tăng mức độ hiểu bài, tự tin cho học viên và tạo cơ sở lượng giá minh bạch, khách quan. > 85% học viên đồng thuận tích cực. Kết luận: Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo dựa trên EPAs có tính khả thi, hiệu quả. Cần tiếp tục hoàn thiện và triển khai rộng rãi hơn các giải pháp này. Lê Ánh Nguyệt, Đỗ Xuân Hai, Đặng Xuân Kiên, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Quang Trung, Ngô Thị Đông, Thiều Ban Trang, Nguyễn Thị Thanh Bình, Chu Tiến Quân Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1716 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ TÂN BỔ TRỢ CỦA UNG THƯ TRỰC TRÀNG TRÊN GIẢI PHẪU BỆNH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1737 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng đáp ứng trên giải phẫu bệnh sau điều trị tân bổ trợ của ung thư trực tràng (UTTT), mức độ thoái triển khối u (tumor regression grade - TRG) theo AJCC/CAP và mối liên quan giữa TRG với các đặc điểm của khối u. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 34 bệnh nhân (BN) UTTT điều trị tân bổ trợ và phẫu thuật triệt căn tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2024 - 9/2025. Kết quả:Tuổi trung bình là 60,82 ± 12,82; nam giới chiếm 82,35%. Sau điều trị tân bổ trợ, kích thước khối u và giai đoạn khối u đều giảm (p < 0,05); hoại tử u mức độ nhiều và tình trạng xơ mức độ nhiều đều tăng lên (p < 0,001). Các khối u đáp ứng điều trị (TRG 0, 1, 2) chiếm đa số (61,76%). Kích thước khối u càng lớn và giai đoạn T càng cao thì đáp ứng càng kém với điều trị tân bổ trợ (p < 0,05). Các đặc điểm mô bệnh học khác của khối u khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm đáp ứng và không đáp ứng điều trị (p > 0,05). Kết luận:Trong các tiêu chí đánh giá đáp ứng điều trị sau tân bổ trợ,TRG theo phân độ của AJCC/CAP giúp đánh giá chính xác đáp ứng với điều trị tân bổ trợ của UTTT và có mối liên quan với kích thước khối u và giai đoạn tại chỗ khối u trước điều trị. Nguyễn Thùy Linh, Phạm Văn Thịnh, Trịnh Văn Trung, Tạ Anh Đức, Trịnh Mạnh Dũng, Trần Xuân Giáp, Hoàng Quốc Việt Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1737 GIÁ TRỊ CỦA NỒNG ĐỘ PSA TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1416 Mục tiêu: Nghiên cứu giá trị chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) của nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (Prostate-Specific Antigen - PSA) ở các bệnh nhân (BN) được sinh thiết tuyến tiền liệt (STTTL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 81 BN được STTTL qua siêu âm trực tràng có kết quả giải phẫu bệnh (GPB) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3 - 10/2023. Phân tích tương quan các chỉ số PSA toàn phần, PSA tự do, % PSA tự do, mật độ PSA với kết quả GPB được xác định là UTTTL khi điểm Gleason ³ 6. Kết quả: Chỉ số trung bình của PSA toàn phần, PSA tự do, mật độ PSA của UTTTL lần lượt là 90,8 ± 69,16 ng/mL, 10,9 ± 8,29 ng/mL và 2,30 ± 2,24 ng/mL/mL, cao hơn so với không UTTTL là 26,6 ± 17,73 ng/mL, 3,7 ± 3,42 ng/mL và 0,47 ±0,32 ng/mL/mL (p < 0,01). Giá trị chẩn đoán UTTTL của PSA toàn phần có điểm cắt là 57 ng/mL, diện tích dưới đường cong (AUC) = 0,803, với độ nhạy (Se) 62,5%, độ đặc hiệu (Sp) 94,9%, giá trị dự báo dương tính (PPV) 59,5% và giá trị dự báo âm tính (NPV) 94,9% (p < 0,01). PSA tự do có điểm cắt là 6,2 ng/mL, AUC = 0,769, Se 72,5%, Sp 87,2%, PPV 69,0%, NPV 87,2% (p < 0,01). Mật độ PSA có điểm cắt là 1,2 ng/mL/mL, AUC = 0,849, Se 67,5%, Sp 76%, PPV 64,3%, NPV 97,4% (p < 0,01). Kết luận: Nồng độ PSA toàn phần cùng với các chỉ số PSA tự do, mật độ PSA góp phần gia tăng giá trị trong chẩn đoán UTTTL. Nguyễn Đình Minh, Vũ Ngọc Dương Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1416 KẾT QUẢ CĂN NGUYÊN VI KHUẨN BẰNG XÉT NGHIỆM PCR ĐA MỒI Ở BỆNH NHI VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1695 Mục tiêu: Đánh giá kết quả xác định căn nguyên vi khuẩn bằng xét nghiệm PCR đa mồi và ảnh hưởng của kết này đến việc lựa chọn kháng sinh ở trẻ em viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân y 103. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang loạt ca bệnh trên 146 bệnh nhi (BN) (2 tháng - 15 tuổi) được chẩn đoán VPCĐ và điều trị nội trú tại Khoa Nhi, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2023 - 6/2024. Dữ liệu lâm sàng, kết quả xét nghiệm PCR đa mồi phát hiện 13 tác nhân vi khuẩn đường hô hấp từ dịch tỵ hầu được thu thập và phân tích. Kết quả: Các căn nguyên vi khuẩn thường gặp bao gồm: Mycoplasma pneumoniae (45,2%), Haemophilus influenzae (45,2%), Streptococcus pneumoniae (32,2%), Moraxella catarrhalis (28,1%). Tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn là 54,1%, đơn nhiễm là 45,9% (trong đó M. pneumoniae chiếm 38,2%, H. influenzae chiếm 35,3%). Sau khi có kết quả PCR, 29,5% bệnh nhân phải đổi kháng sinh. Thời điểm thực hiện PCR muộn (> 2 ngày) làm tăng khả năng phải thay đổi kháng sinh (OR = 3,6; 95%CI: 1,31 - 9,89; p < 0,05) so với nhóm được thực hiện PCR sớm (≤ 2 ngày) (OR = 3,6; 95%CI: 1,31 - 9,89; p < 0,05). Kết luận: M. pneumoniae và H. influenzae là hai căn nguyên hàng đầu gây VPCĐ ở trẻ, với tỷ lệ đồng nhiễm cao. Xét nghiệm PCR sớm giúp sử dụng kháng sinh hợp lý. Lê Thị Thúy Hằng, Vũ Thị Minh Thu, Lê Thị Bích Liên, Hà Đình Bổng, Trần Thúy Hằng, Nguyễn Trần Ngọc Hiếu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1695 THỰC TRẠNG MANG GENE BỆNH ALPHA THALASSEMIA CỦA BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN NHI THANH HÓA (2024 - 2025) https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1718 Mục tiêu: Xác định đặc điểm đột biến gene α-globin và đánh giá một số chỉ số xét nghiệm liên quan của bệnh nhi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 457 bệnh nhi (BN) đến khám tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa năm 2014 - 2025 thực hiện kỹ thuật Multiplex PCR xác định đột biến gene α-globin có MCV< 85fL và/hoặc MCH < 28pg và kết quả điện di huyết sắc tố HbA2 < 3,5%. Kết quả: Có 188 BN (41,14%) mang gene đột biến. Nghiên cứu đã phát hiện được ba loại alen đột biến là -SEA (89,29%), –α3.7 (8,67%) và –α4.2 (2,04%). Các kiểu gene đột biến bao gồm--SEA/αα (88,83%), –α3.7α/αα (5,32%), –α4.2α/αα (1,6%), --SEA/–α3.7α (0,53%), và --SEA/–α4.2 (0,53%).Điện di huyết sắc tố của nhóm BN có kết quả xét nghiệm PCR dương tính và âm tính không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Thanh Hóa là địa phương có tỷ lệ lưu hành đột biến gene α-globin trong cộng đồng ở mức cao và đột biến --SEA là đột biến phổ biến nhất. Kết quả điện di huyết sắc tố không có giá trị trong sàng lọc các BN alpha thalassemia thể ẩn và thể nhẹ. Lê Thị Thùy Dương, Nguyễn Doãn Trường, Trần Ngọc Anh, Đỗ Lương Quyên , Trần Thị Hải Yến Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1718 ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA ĐIỆN CHÂM KẾT HỢP VỚI THỦY CHÂM HUYỆT DƯƠNG LĂNG TUYỀN Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG CỔ VAI CÁNH TAY DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1685 Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm đau của điện châm kết hợp với thủy châm huyệt Dương lăng tuyền điều trị hội chứng cổ vai cánh tay (HCCVCT) do thoái hóa cột sống. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp, so sánh trước và sau điều trị trên 51 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định mắc HCCVCT do thoái hóa cột sống tại Khoa Y học cổ truyền (YHCT), Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2024 - 8/2025. Kết quả: Sau 14 ngày điều trị, có 31 BN (60,78%) đạt kết quả tốt, 13 BN (25,50%) đạt kết quả khá và 7 BN (13,72%) đạt kết quảtrung bình. Kết luận: Điện châmkết hợp với thủy châm huyệt Dương lăng tuyền có hiệu quả tốt trên BN HCCVCT do thoái hóa cột sống, phương pháp này an toàn trên BN. Hoàng Văn Nghĩa, Nguyễn Thanh Hà Tuấn, Phan Văn Minh; Đậu Hữu Nghị; Nguyễn Trâm Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1685 ĐẶC ĐIỂM TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY SAU ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT VÀ HÓA TRỊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1736 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân (BN) ung thư dạ dày (UTDD) sau điều trị phẫu thuật, hóa trị tại Bệnh viện Quân y 103. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 60 BN UTDD được điều trị phẫu thuật và hóa trị 6 chu kỳ phác đồ FOLFOX (3/2024 - 3/2025). Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trước hóa trị là 30%; tỷ lệ suy dinh dưỡng sau hóa trị cao hơn trước hóa trị (p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic đơn biến cho thấy tuổi ≥ 60 (OR = 9,0), chế độ dinh dưỡng tự túc (OR = 21,0), giai đoạn muộn III - IV (OR = 5,7), mô bệnh học không phải type ruột (OR = 6,6) và PNI < 45 trước điều trị (OR = 25,6) là các yếu tố liên quan với tình trạng suy dinh dưỡng sau hóa trị. Kết luận: Tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh UTDD sau phẫu thuật và hóa trị chiếm 30,00 - 36,67%. Các yếu tố nguy cơ chính gồm tuổi cao, chế độ dinh dưỡng tự túc, giai đoạn bệnh muộn, thể mô bệnh học không phải type ruột và PNI thấp. Nguyễn Hữu Thiện, Phạm Khánh Hưng, Hà Văn Trí, Vũ Huy Bôn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1736 SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ TROPONIN I Ở BỆNH NHÂN SỐC NHIỄM KHUẨN VÀ GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1747 Mục tiêu: Khảo sát sự biến đổi nồng độ Troponin I huyết tương ở bệnh nhân (BN) sốc nhiễm khuẩn (SNK) và xác định giá trị tiên lượng tử vong. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang và theo dõi dọc trên 59 BN SNK tại Trung tâm Hồi sức cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2023 - 6/2025. Troponin I định lượng tại T0, T24 giờ, T48 giờ, T72 giờ. Phân tích mối liên quan với SOFA, APACHE II, lactate, PCT. Sử dụng ROC và hồi quy logistic đa biến để đánh giá giá trị tiên lượng. Kết quả: Tỷ lệ tăng Troponin I tại T0 là 76,3%. Troponin I tương quan thuận với SOFA, APACHE II, lactate, PCT. ROC cho thấy AUC = 0,717, cut-off 101,3 pg/mL (Se 82,6%, Sp 52,8%). Hồi quy đa biến xác định Troponin I là yếu tố độc lập dự báo tử vong (OR = 9,1; 95%CI: 2,1 - 40,7; p < 0,05). Kết luận:Troponin I tăng cao ở BN SNK và có giá trị tiên lượng tử vong độc lập. Nguyễn Minh Hải, Trần Quốc Thắng, Trần Văn Tùng, Vũ Minh Dương Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1747 THỰC TRẠNG THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1387 Mục tiêu: Đánh giá thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (VCDD) ở trẻ vị thành niên. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 169 trẻ vị thành niên (10 - 17 tuổi) thăm khám tại Phòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 12/2023 - 7/2024. Kết quả: Thiếu vitamin D chiếm 89,0%, thiếu calci ion chiếm 23,7%, thiếu kẽm chiếm 16,8% và thiếu sắt chiếm 15%; biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là da xanh - niêm mạc nhợt (44,4%) và chuột rút (32,5%). Thiếu kẽm phổ biến hơn ở nam giới (p = 0,01) trong khi thiếu calci gặp nhiều ở nhóm ≥ 14 tuổi (p = 0,03); không thấy khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm đã dậy thì và chưa dậy thì đối với các vi chất khảo sát. Kết luận: Tình trạng thiếu vi chất, đặc biệt vitamin D, vẫn phổ biến ở trẻ vị thành niên. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc định kỳ nhằm nâng cao sức khỏe cho lứa tuổi này. Lưu Thị Mỹ Thục, Đỗ Thị Cần, Nguyễn Thị Thúy Hồng, Trần Tiến Đạt Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1387 ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA HÀO CHÂM KẾT HỢP THỦY CHÂM HUYỆT DƯƠNG LĂNG TUYỀN Ở NGƯỜI BỆNH ĐAU THẮT LƯNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG THỂ THẬN HƯ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1684 Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm đau của hào châm kết hợp với thủy châm huyệt Dương lăng tuyền ở người bệnh (NB) đau thắt lưng do thoái hóa cột sống (THCS) thể Thận hư. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứumô tả cắt ngang, so sánh trước - sau điều trị trên 60 NB đau thắt lưng do THCS tại Bộ môn - Khoa Y học cổ truyền (YHCT), Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 9/2024 - 6/2025. Kết quả: Sau 14 ngày điều trị, đa số NB cải thiện rõ ràng các triệu chứng lâm sàng với điểm giảm hơn 80%. Mức độ đau theo thang điểm VAS, tầm vận động cột sống thắt lưng và chỉ số Schober giảm có ý nghĩa lâm sàng và thống kê. Kết luận: Hào châm kết hợp thủy châm huyệt Dương lăng tuyền mang lại hiệu quả giảm đau, cải thiện chức năng vận động và là phương pháp điều trị an toàn cho NB đau thắt lưng do THCS. Phan Văn Minh, Hoàng Văn Nghĩa, Đậu Hữu Nghị, Nguyễn Thanh Hà Tuấn, Lưu Trường Thanh Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1684 ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CHỨNG MẤT NGỦ CỦA BÀI THUỐC “AN THẦN THANG AM9” TRÊN LÂM SÀNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1701 Mục tiêu: Đánh giá tác dụng điều trị của bài thuốc “An thần thang AM9” trên bệnh nhân (BN) mất ngủ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, can thiệp lâm sàng, so sánh trước và sau điều trị, không có nhóm chứng trên 30 BN mất ngủ được điều trị tại Khoa Y học cổ truyền (YHCT), Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y từ tháng 6/2024 - 6/2025. Kết quả: Sau 15 ngày điều trị, BN có sự cải thiện rõ rệt về chỉ số giấc ngủ, thời gian ngủ trung bình tăng từ 3,6 ± 0,8 giờ lên 5,0 ± 0,7 giờ, hiệu suất giấc ngủ tăng từ 47,2 ± 11,3% lên 66,3 ± 9,3% và thang điểm ISI (Insomnia severity index) giảm đáng kể từ 19,7 ± 3,7 xuống 13,3 ± 2,9 so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết luận: Bài thuốc “An thần thang AM9” có hiệu quả tốt trong điều trị chứng mất ngủ. Nguyễn Thanh Hà Tuấn, Nguyễn Hữu Công Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1701 GIÁ TRỊ SỨC CƠ TAY CẢI THIỆN NHẬN DIỆN SUY DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1741 Mục tiêu: Đánh giá giá trị bổ trợ của lực bóp tay (handgrip strength - HGS) khi kết hợp chỉ số cơ thể (BMI) theo PG-SGA ở bệnh nhân (BN) ung thư điều trị nội trú. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 108 BN ung thư điều trị nội trú tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Quân y 103. Phân loại tình trạng dinh dưỡng PG-SGA: Nhóm A (không suy dinh dưỡng) và nhóm B/C (suy dinh dưỡng). Đo HGS và xác định HGS thấp theo tiêu chuẩn AWGS 2019. Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính, logistic và ROC. Kết quả: Tỷ lệ PG-SGA B/C là 67,6%. Nhóm SDD có độ tuổi cao hơn, BMI và HGS thấp hơn. Hồi quy tuyến tính: HGS thấp (B = +2,34; p = 0,030) và giai đoạn bệnh muộn (B = +4,66; p = 0,002) làm tăng điểm PG-SGA; BMI liên quan nghịch (B = -0,68; p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic cho thấy BMI là yếu tố bảo vệ (OR = 0,715; p = 0,001), tuổi tăng nguy cơ (OR = 1,06; p = 0,028); HGS thấp không còn ý nghĩa sau hiệu chỉnh. Phân tích ROC cho thấy giá trị AUC HGS 0,634; BMI 0,708; BMI + HGS 0,761, gợi ý HGS thêm giá trị khi kết hợp BMI. Kết luận: Ở BN ung thư nội trú, BMI thấp và tuổi cao liên quan độc lập với PG-SGA B/C. HGS làm tăng điểm PG-SGA và cải thiện phân biệt phân loại SDD khi kết hợp BMI. Cần đo HGS bên cạnh BMI để sàng lọc và ưu tiên can thiệp dinh dưỡng sớm cho BN khi nhập viện. Phạm Đức Minh, Đỗ Minh Hiếu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1741 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: SUY GIÁP DO VIÊM TUYẾN GIÁP TỰ MIỄN ĐẾN SAU BỆNH GRAVES ĐÃ ĐẠT THUYÊN GIẢM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1727 Bệnh Graves điều trị nội khoa và đạt thuyên giảm có thể tiến triển thành suy giáp sau nhiều năm, với tỷ lệ khoảng 20 - 30% [1, 5]. Trong đó, khoảng 1/3 trường hợp do kháng thể ức chế thụ thể TSH, số còn lại liên quan đến viêm tuyến giáp tự miễn [4, 6]. Chúng tôi báo cáo 1 ca bệnh được chẩn đoán bệnh Graves vào tháng 8/2019 với biểu hiện cường giáp điển hình, được điều trị bằng kháng giáp tổng hợp trong 19 tháng và đạt thuyên giảm lâu dài. Đến tháng 8/2025, bệnh nhân (BN) xuất hiện bướu giáp kèm suy giáp, được chẩn đoán suy giáp do viêm tuyến giáp tự miễn. Mặc dù chưa sinh thiết tuyến giáp (tiêu chuẩn vàng để xác định thể bệnh) nhưng qua phân tích triệu chứng, tiếp cận chẩn đoán theo hệ thống và đánh giá đáp ứng điều trị, trường hợp này được xem là ca bệnh điển hình cho sự thay đổi chức năng tuyến giáp trong phổ bệnh lý tuyến giáp tự miễn, tùy thuộc vào bệnh lý tự miễn ưu thế tại từng thời điểm. Nghiên cứu này cho thấy bệnh Graves thực chất nằm trong phổ bệnh tuyến giáp tự miễn, trong đó các thể bệnh có thể nối tiếp hoặc tồn tại độc lập trên cùng một cá thể, phụ thuộc vào sự tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường. Do đó, việc theo dõi lâu dài có ý nghĩa quan trọng ngay cả khi Graves đã lui bệnh bền vững. Nguyễn Bá Hiệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1727 ĐẶC ĐIỂM YẾU TỐ NGUY CƠ GÃY XƯƠNG THEO MÔ HÌNH FRAX Ở BỆNH NHÂN LOÃNG XƯƠNG CÓ ĐIỀU TRỊ ZOLEDRONIC ACID TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ HẢI PHÒNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1417 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm yếu tố nguy cơ gãy xương theo mô hình FRAX (fracture risk assessment tool) ở bệnh nhân (BN) loãng xương đã hoặc đang điều trị Zoledronic acid (ZOL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 265 BN ≥ 50 tuổi được chẩn đoán loãng xương theo Tiêu chuẩn WHO (1994) và đã sử dụng ZOL ít nhất 1 liều tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng từ tháng 01/2024 - 6/2025. Các dữ liệu lâm sàng và chỉ số mật độ xương được thu thập để tính điểm FRAX theo mô hình cho người châu Á. Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và phân tích số liệu. Kết quả: Tuổi trung bình là 66,3 ± 12,8; T-score cột sống thắt lưng (CSTL) và cổ xương đùi (CXĐ) lần lượt là -3,62 ± 1,4 và -2,82 ± 1,3. Điểm FRAX trung bình cho gãy xương chung là 17,90 ± 3,64%, trong đó 21,6% BN có nguy cơ cao (≥ 20%). Điểm FRAX gãy xương vùng háng trung bình là 5,68 ± 0,85%, với 10,9% BN nguy cơ cao (≥ 3%). Ba yếu tố nguy cơ có liên quan có ý nghĩa thống kê với loãng xương tại CXĐ là: BMI < 18,5 (OR = 3,71; p < 0,05), tiền sử gãy xương (OR = 4,62; p < 0,001) và sử dụng corticoid kéo dài (OR = 3,43; p < 0,05). Kết luận: Mô hình FRAX giúp phát hiện nguy cơ gãy xương cao ngay cả ở BN có T-score chưa đạt ngưỡng loãng xương. Do đó, mô hình có giá trị trong đánh giá và theo dõi hiệu quả điều trị ở BN loãng xương đã điều trị ZOL. Hoàng Văn Dũng, Nguyễn Thị Thu Phương Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1417 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN MÂM CHÀY BẰNG PHẪU THUẬT KẾT XƯƠNG NẸP KHÓA ÍT XÂM LẤN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1740 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín mâm chày bằng phẫu thuật kết xương nẹp khóa ít xâm lấn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc, không đối chứng trên 36 trường hợp (TH) gãy kín mâm chày được kết xương bằng nẹp khóa tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 3/2023 - 4/2024. Kết quả: Tỷ lệ liền xương 100%, thời gian liền xương trung bình 14,45 ± 2,34 tuần. 1/36 TH ổ kết xương bị nhiễm khuẩn sâu và lệch trục 8°, 3/36 TH lệch trục nhỏ hơn 5°, không có TH nào ổ kết xương di lệch thứ phát sau mổ, gãy nẹp vít. Hiệu quả phẫu thuật: Đạt kết quả tốt là 21/26 TH (80,8%), khá là 4/26 TH (15,4%), trung bình là 0/26 TH, kém là 1/26 TH (3,8%). Kết luận: Phẫu thuậtkết xương mâm chày bằng nẹp khóa ít xâm lấn cho kết quả tốt, phục hồi chức năng tốt và tỷ lệ biến chứng thấp. Nguyễn Việt Nam, Lê Văn Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1740 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ RÁCH CHÓP XOAY TOÀN PHẦN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1725 Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị rách chóp xoay toàn phần. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 35 trường hợp (TH) rách chóp xoay toàn phần được phẫu thuật nội soi khâu chóp xoay từ tháng 9/2023 - 02/2025. Kết quả: Tuổi trung bình là 61,46 ± 8,39; tỷ lệ nam/nữ là 19/16. Thời gian theo dõi trung bình là 9,26 ± 4,09 tháng. Điểm UCLA (University of California, Los Angeles) trung bình là 29,29 ± 4,13 (80% rất tốt và tốt); điểm VAS (Visual Analog Scale) trung bình là 3,11 ± 1,94. Siêu âm kiểm tra 24/35 TH có tỷ lệ liền gân đạt 100%. Chức năng khớp vai sau phẫu thuật không bị ảnh hưởng bởi mức độ co rút gân, kích thước đường rách, mức độ thoái hóa mỡ và teo cơ chóp xoay. Mức độ liền gân trên siêu âm có liên quan đến kích thước rách gân chóp xoay (p = 0,02). Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị rách chóp xoay toàn phần là phương pháp hiệu quả, cho kết quả giảm đau và phục hồi chức năng khớp vai tốt. Nguyễn Trần Cảnh Tùng, Nguyễn Tuấn Anh, Đặng Hoàng Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1725 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT TÁI PHÁT BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI KẾT HỢP NỘI SOI ĐƯỜNG MẬT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1692 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị sỏi đường mật tái phát bằng phẫu thuật nội soi (PTNS) kết hợp nội soi đường mật lấy sỏi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả trên 34 bệnh nhân (BN) sỏi đường mật tái phát, được điều trị bằng PTNS kết hợp nội soi đường mật tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 6/2021 - 6/2025. Kết quả: Có 34 BN sỏi đường mật tái phát được điều trị bằng PTNS kết hợp nội soi đường mật lấy sỏi. Tuổi trung bình là 54,24 (28 - 80); nữ giới chiếm đa số (76,5%). Đa số BN có tiền căn mổ sỏi đường mật 1 lần (55,9%); với thời gian tái phát sỏi trung bình > 2 năm (73,5%). Sỏi ống mật chủ (OMC) kèm sỏi trong gan chiếm đa số (41,2%). Tỷ lệ chuyển mổ mở là 23,5%; thời gian phẫu thuật trung bình là 126 ± 25,5 phút. Tai biến trong mổ là 11,7%; thời gian nằm viện trung bình là 7,2 ngày. Tỷ lệ sạch sỏi lần đầu là 76,9%; chủ động để lại sỏi là 15,4%; sót sỏi là 7,7%. Có 5 BN (19,2%) tái phát sỏi với thời gian theo dõi trung bình 16,8 tháng. Kết luận: PTNS kết hợp nội soi đường mật lấy sỏi ở những BN sỏi đường mật tái phát bước đầu có kết quả khả quan. Nguyễn Văn Mạnh, Đoàn Thanh Huy, Nguyễn Văn Quỳnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1692 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG BẢ VAI BẰNG PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG BÊN TRONG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1724 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy ổ chảo, cổ và thân xương bả vai bằng phẫu thuật kết hợp xương bên trong. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 52 bệnh nhân (BN) gãy ổ chảo, cổ và thân xương bả vai, điều trị tại Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2019 - 12/2024. Chức năng vai đánh giá bằng thang điểm Constant-Murley, số liệu xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0, p < 0,05. Kết quả: Tuổi trung bình (TB) là 46,6 (19 - 71 tuổi), nam chiếm 84,6%, nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (82,7%). Sau 3 tháng, 100% BN liền xương, chức năng khớp vai TB là 38,5%, tốt là 59,6%. Sau 6 - 12 tháng, 90,4% đạt kết quả tốt/rất tốt, điểm Constant-Murley TB là 79,2. Theo dõi xa TB là 33,91 tháng, 95,4% đạt chức năng tốt/rất tốt, điểm Constant-Murley TB là 84,5. Góc cổ xương bả vai (Glenopolar angle - GPA) trước mổ liên quan có ý nghĩa đến phục hồi chức năng (p = 0,04). Kết luận:Phẫu thuật kết hợp xương bên trong gãy ổ chảo, cổ và thân xương bả vai cho kết quả liền xương cao, cải thiện chức năng vai rõ rệt và là phương pháp điều trị hiệu quả cho gãy xương bả vai có di lệch. Thái Ngọc Bình, Phùng Anh Tuấn, Vũ Nhất Định Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1724 PHẪU THUẬT CẮT TOÀN BỘ MẠC TREO ĐẠI TRÀNG NỘI SOI KẾT HỢP VÉT HẠCH D3 CHO UNG THƯ ĐẠI TRÀNG SIGMA: KẾT QUẢ DÀI HẠN VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1742 Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá tính khả thi và an toàn cũng như kết quả về mặt ung thư (UT) học của phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng (complete mesocolic excision - CME) kết hợp vét hạch D3 trong điều trị UT đại tràng sigma. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 149 bệnh nhân (BN) UT đại tràng sigma được phẫu thuật CME nội soi với vét hạch D3 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 từ tháng 6/2018 - 6/2022. Kết quả: Thời gian phẫu thuật trung bình là 134,2 ± 30,6 phút. Tỷ lệ biến chứng sớm thấp (rò miệng nối là 2,1%; nhiễm trùng vết mổ là 2,7%; tắc ruột là 1,3%) và không có tử vong trong 30 ngày. Thời gian theo dõi trung bình 31,2 tháng, tỷ lệ sống toàn bộ ở 1, 2, 3 và 5 năm lần lượt là 97,9%, 93,0%, 89,9% và 86,8%. Tỷ lệ tái phát là 10,7%, chủ yếu do di căn gan (4,7%). Phân tích đa biến xác định giai đoạn u (HR = 1,4; p < 0,01) và độ biệt hóa mô học (HR = 1,3; p = 0,02) là yếu tố tiên lượng độc lập. Kết luận: Phẫu thuật CMEnội soi kết hợp vét hạch D3 là phương pháp an toàn, khả thi và đạt hiệu quả UT học tốt, với tỷ lệ sống dài hạn khả quan. Hồ Hữu An, Nguyễn Văn Trưởng, Lê Văn Quốc Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1742 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: ĐỨT GÂN DUỖI DÀI NGÓN CÁI SAU GÃY ĐẦU DƯỚI XƯƠNG QUAY ÍT LỆCH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1732 Mục tiêu: Báo cáo hai trường hợp đứt gân duỗi dài ngón cái sau gãy đầu dưới xương quay ít lệch; từ đó, thảo luận về sinh lý bệnh, phương pháp điều trị phẫu thuật và bổ sung dữ liệu lâm sàng cho các y văn đã có về biến chứng của ca bệnh này. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hai trường hợp đứt gân duỗi dài ngón I muộn sau gãy đầu dưới xương quay ít di lệch được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Chẩn đoán xác định dựa vào thăm khám lâm sàng, siêu âm và hình ảnh X-quang. Kết quả: Phẫu thuật ghép gân tự thân sử dụng gân cơ gan tay dài, khâu nối hai đầu bằng kỹ thuật Pulvertaft. Đánh giá sau 10 tháng theo thang điểm Gelmacher cho thấy kết quả tốt. Ngón I phục hồi hoàn toàn biên độ vận động, sức nắm và sức kẹp đạt 90% so với bên lành. Kết luận: Đứt gân duỗi dài ngón I có thể xảy ra sau gãy đầu dưới xương quay ít di lệch, thường do cơ chế chèn ép và thiếu máu nuôi tại khoang gân. Phẫu thuật ghép gân tự thân là một lựa chọn khả quan và hiệu quả. Cần theo dõi gãy đầu dưới xương quay trong ba tháng đầu để phát hiện sớm các dấu hiệu tổn thương gân. Lưu Danh Huy, Phan Văn Hậu, Chu Đức Phong, Nguyễn Giang Linh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1732 KẾT CỤC THAI KỲ Ở THAI PHỤ CÓ CỔ TỬ CUNG NGẮN ĐƯỢC ĐẶT VÒNG NÂNG PESSARY TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC NHA TRANG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1475 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết cục thai kỳ và phân tích các yếu tố tiên lượng ở thai phụ có cổ tử cung (CTC) ngắn được đặt vòng nâng pessary. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 54 thai phụ có CTC ngắn được đặt vòng nâng pessary tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang từ tháng 12/2022 - 12/2024. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và phương pháp hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng nguy cơ sinh non. Kết quả: Đa số thai kỳ là đơn thai (88,9%), không có tiền sử sinh non (96,3%) và CTC ngắn ≤ 25mm (87%). Tỷ lệ sinh đủ tháng (≥37 tuần) đạt 77,8%. Tuổi thai trung bình khi sinh là 36,97± 4,04 tuần. Song thai được xác định là yếu tố tiên lượng độc lập làm tăng nguy cơ sinh non một cách có ý nghĩa (OR =29,28; 95%CI: 2,83 - 303,13; p =0,005). Tác dụng không mong muốn được ghi nhận ở mức thấp, với 01 trường hợp (1,9%) vỡ ối non. Kết luận: Đặt vòng nâng pessary là can thiệp an toàn và liên quan đến kết cục thai kỳ thuận lợi ở nhóm thai phụ được sàng lọc và lựa chọn cẩn thận. Tuy nhiên, song thai là yếu tố tiên lượng quan trọng, làm tăng cho nguy cơ thất bại điều trị. Đinh Thanh Hà, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Như Thu Trúc, Cao Xuân Thành, Bùi Đức Hoàn, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Minh Huyền Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1475 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: STENT NHỰA ĐƯỜNG MẬT BỊ LÃNG QUÊN DI CHUYỂN LÊN GAN TRÁI, BIẾN CHỨNG VÀ XỬ TRÍ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1743 Nội soi mật tụy ngược dòng (endoscopic retrograde cholangiopancreatography -ERCP) và đặt stent đường mật là phương pháp can thiệp phổ biến trong điều trị sỏi ống mật chủ hoặc hẹp đường mật. Tuy nhiên, nếu không được theo dõi và lấy ra đúng thời gian, stent có thể trở thành dị vật gây biến chứng nghiêm trọng. Chúng tôi trình bày 1 trường hợp thấm mật phúc mạc, tắc mật do sỏi ống mật chủ ở người bệnh còn stent đường mật bị lãng quên, di chuyển lên ống gan trái. Ca lâm sàng này cho thấu sự cần thiết của việc nâng cao nhận thức về tuân thủ theo dõi và lấy stent đường mật sau ERCP đúng hẹn. Hồ Chí Thanh, Phan Quốc Đạt, Ngô Viết Phú, Nguyễn Quang Nam Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1743 NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT NỐI HỒI - ĐẠI TRÀNG TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN CẮT NỬA ĐẠI TRÀNG PHẢI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1745 Mục tiêu: Đánh giá một số đặc điểm kỹ thuật nối hồi - đại tràng trong phẫu thuật nội soi (PTNS) hoàn toàn cắt nửa đại tràng phải điều trị ung thư đại tràng (UTĐT). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, tiến cứu và mô tả trên 66 bệnh nhân(BN) UTĐT phải được PTNS hoàn toàn cắt nửa đại tràng phải bằng kỹ thuật nối hồi - đại tràng trong ổ bụng tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2020 - 7/2025. Kết quả: Thời gian phẫu thuật trung bình là 123,8 ± 43,1 phút. Thời gian nối trung bình và thời gian khâu kín lỗ miệng nối lần lượt là 14,9 ± 4,0 phút và 9,8 ± 2,4 phút. Tất cả BN đều được thực hiện tạo miệng nối kiểu bên - bên; 86,4% sử dụng stapler 60mm và 13,6% sử dụng stapler 45mm. Có 3% BN cần khâu bổ sung tại vị trí hàng ghim stapler. Lượng máu mất trung bình là 21,8 ± 11,8mL, không có BN chuyển mổ mở hoặc tai biến trong mổ. Biến chứng sau phẫu thuật ghi nhận gồm chảy máu miệng nối (3%) và nhiễm khuẩn vết mổ (1,5%), không có trường hợp nào tử vong. Kết luận:PTNS hoàn toàn cắt nửa đại tràng phải thực hiện miệng nối hồi - đại tràng trong ổ bụng là kỹ thuật khả thi, an toàn. Nguyễn Văn Tiệp, Ngô Gia Khánh, Nguyễn Trọng Hòe, Hồ Chí Thanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1745 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ U ĐẶC GIẢ NHÚ THÂN, ĐUÔI TỤY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1697 Mục tiêu:Đánh giá và theo dõi xa kết quả sớm phẫu thuật điều trị u đặc giả nhú (solid pseudopapillary neoplasms - SPNs) thân, đuôi tụy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 39 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán SPNs ở thân, đuôi tuỵ, được phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Ðức từ ngày 01/12/2014 - 30/11/2019. Kết quả: Tuổi trung bình là 27,3; nữ chiếm 94,9%; kích thước u trung bình là 57,8mm. Phẫu thuật nội soi (28,2%), mổ mở (71,8%), đa số BN được cắt thân, đuôi tụy và cắt lách là 61,5%. Theo dõi xa được 35 BN, không có BN nào tử vong, 2 BN tái phát sau 37 và 50 tháng sau mổ. Hầu hết có chất lượng cuộc sống tốt (85,7%), tỷ lệ sống thêm 5 năm không bệnh đạt 94,2%. Kết luận: Phẫu thuật điều trị SPNs thân, đuôi tụy cho kết quả tốt, tỷ lệ tái phát thấp, chất lượng cuộc sống tốt. Phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt thân, đuôi tụy điều trị SPNs được thực hiện an toàn và khả thi. Các yếu tố giới tính, nồng độ CA 19-9, kích thước và cấu trúc u chưa thấy có mối liên quan đến tái phát. Ninh Việt Khải, Nguyễn Minh Toản, Hồ Chí Thanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1697 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRIỂN KHAI THAY VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ KHÔNG KHÂU PERCEVAL PLUS TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1728 Mục tiêu: Báo cáo kinh nghiệm bước đầu triển khai kỹ thuật thay van động mạch chủ (ĐMC) không khâu Perceval Plus. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 4 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật thay van ĐMC không khâu Perceval Plus tại Bệnh viện Bạch Mai. Chỉ định phẫu thuật đối với bệnh lý hẹp van ĐMC hoặc hẹp - hở phối hợp. Tất cả trường hợp được tiếp cận qua đường mở xương ức, cắt bỏ van bệnh lý, làm sạch vôi hoá vòng van, đo kích thước và thay van theo quy trình. Kết quả: Thời gian cặp ĐMC và tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) trung bình lần lượt là 60,5 ± 19,2 và 83,8 ± 17,8 phút. Không ghi nhận tử vong sau mổ, không có hở cạnh van và không BN nào cần đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. Tại thời điểm ra viện, siêu âm tim cho thấy diện tích lỗ van hiệu dụng cải thiện rõ rệt, chênh áp qua van thấp. Kết luận: Thay van ĐMC không khâu Perceval Plus bước đầu đạt kết quả tốt và là phương pháp khả thi, an toàn. Ngô Phi Long, Ma Nguyễn Thái Hoàng, Tạ Đình Đô, Phạm Quốc Đạt Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1728