Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm <p>Học viện Qu&acirc;n y l&agrave; cơ sở đ&agrave;o tạo đại học, sau đại học ng&agrave;nh Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc ph&ograve;ng với 3 nhiệm vụ ch&iacute;nh trị trung t&acirc;m l&agrave; đ&agrave;o tạo c&aacute;n bộ qu&acirc;n y c&aacute;c cấp, đội ngũ nh&acirc;n vi&ecirc;n y tế phục vụ sự nghiệp c&ocirc;ng nghiệp h&oacute;a, hiện đại h&oacute;a đất nước; điều trị v&agrave; nghi&ecirc;n cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học qu&acirc;n sự; kh&ocirc;ng ngừng phấn đấu với vị tr&iacute; của một trong những trường đại học y dược h&agrave;ng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở th&agrave;nh trung t&acirc;m đ&agrave;o tạo nh&acirc;n lực, nghi&ecirc;n cứu khoa học, ph&aacute;t triển v&agrave; ứng dụng c&aacute;c kỹ thuật ti&ecirc;n tiến trong c&aacute;c lĩnh vực y học qu&acirc;n sự v&agrave; y học chung của quốc gia v&agrave; quốc tế.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự l&agrave; cơ quan ng&ocirc;n luận th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Học viện Qu&acirc;n y, trực thuộc Ban Gi&aacute;m đốc Học viện; được cấp Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 345/GP-BVHTT ng&agrave;y 08/8/2002 v&agrave; xuất bản 02 th&aacute;ng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn c&oacute; thể trao đổi với c&aacute;c đồng nghiệp tr&ecirc;n to&agrave;n thế giới về th&agrave;nh tựu nghi&ecirc;n cứu y học, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự đ&atilde; đề nghị Tổng cục Ch&iacute;nh trị cho ph&eacute;p tạp ch&iacute; được đưa c&aacute;c b&agrave;i viết đ&atilde; đăng tải l&ecirc;n mạng internet v&agrave; đ&atilde; được sự đồng &yacute; của Thủ trưởng Tổng cục Ch&iacute;nh trị (theo c&ocirc;ng văn số 440/VP của Văn ph&ograve;ng Tổng cục ng&agrave;y 16/5/2005). Đ&acirc;y l&agrave; bước ph&aacute;t triển quan trọng của Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự, tạo điều kiện cho tạp ch&iacute; được trao đổi với c&aacute;c tạp ch&iacute; c&oacute; uy t&iacute;n tr&ecirc;n thế giới. Ng&agrave;y 21/06/2006, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ng&agrave;y 6/5/2026, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu ti&ecirc;n cho tới nay, Tạp ch&iacute; Y Dược Qu&acirc;n sự đ&atilde; được cấp ph&eacute;p sửa đổi n&acirc;ng kỳ xuất bản l&ecirc;n 9 số/năm (Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 1149/GP-BTTTT năm 2012 v&agrave; số 594/GP-BTTTT năm 2022) v&agrave; c&aacute;c số Tạp ch&iacute; đặc biệt cho c&aacute;c Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm n&acirc;ng cao chất lượng tạp ch&iacute; hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp ch&iacute; đ&atilde; x&acirc;y dựng website ri&ecirc;ng để xuất bản online v&agrave; gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o, đồng thời đ&atilde; thực hiện phản biện k&iacute;n 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự lu&ocirc;n nỗ lực khẳng định thương hiệu của m&igrave;nh, đ&oacute;ng g&oacute;p t&iacute;ch cực phục vụ c&ocirc;ng t&aacute;c đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; điều trị. Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự thực sự trở th&agrave;nh cơ quan ng&ocirc;n luận về chuy&ecirc;n m&ocirc;n khoa học, đ&agrave;o tạo v&agrave; điều trị của Học viện Qu&acirc;n y, s&aacute;t c&aacute;nh c&ugrave;ng c&aacute;c đơn vị trong đội h&igrave;nh Học viện viết n&ecirc;n những trang v&agrave;ng th&agrave;nh t&iacute;ch hơn 70 năm x&acirc;y dựng v&agrave; trưởng th&agrave;nh của Học viện Qu&acirc;n y.</p> vi-VN tcydhqs@vmmu.edu.vn (Journal of Military Pharmaco-medicine) tcydhqs@vmmu.edu.vn (VOJS) T5, 28 Thg 5 2026 07:19:13 +0700 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 CƠ CẤU DANH MỤC VÀ TIÊU THỤ KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN BỎNG QUỐC GIA LÊ HỮU TRÁC NĂM 2024 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1904 Mục tiêu:Mô tả cơ cấu danh mục và mức tiêu thụ kháng sinh trong điều trị nội trú. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên dữ liệu sử dụng kháng sinh nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ ngày 01/01 - 31/12/2024. Kết quả:Kháng sinh chiếm 47,7% tổng giá trị sử dụng thuốc trong điều trị nội trú. Nhóm có tỷ trọng chi phí cao gồm carbapenem (23,6%), fluoroquinolones (22,8%), cephalosporin thế hệ 3 (15,5%), penicillin (14,1%) và polymyxin (10,7%). Theo phân loại AWaRe, nhóm Watch (nhóm giám sát) chiếm 69,8%, nhóm Reserve (nhóm dự trữ) chiếm 19,4% và nhóm Access (nhóm tiếp cận) chiếm 10,8% tổng chi phí sử dụng kháng sinh. Kháng sinh thuộc danh mục ưu tiên quản lý theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế chiếm 68,5%. Thuốc đường tiêm/truyền chiếm 97,9% giá trị sử dụng. Chi phí và mức tiêu thụ kháng sinh tập trung chủ yếu tại Khoa Hồi sức cấp cứu (50,5%). Kết luận: Sử dụng kháng sinh nội trú chủ yếu là thuốc phổ rộng, đường tiêm/truyền và các nhóm cần giám sát cao. Kết quả này phản ánh nhu cầu đặc thù trong điều trị bệnh nhân bỏng nặng, đồng thời cho thấy cần tăng cường quản lý và tối ưu hóa sử dụng kháng sinh dựa trên phân tích tiêu thụ và chi phí. Nguyễn Thị Hồng Thắm, Ngô Minh Đức, Ngô Thị Xuân Thu, Vũ Dương Anh Minh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1904 KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ PROPROTEIN CONVERTASE SUBTILISIN/KEXIN TYPE 9 HUYẾT TƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN XƠ GAN VÀ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1810 Mục tiêu:Đánh giá nồng độ proprotein convertase subtilisin/kexin type 9 (PCSK9) huyết tương trên bệnh nhân (BN) xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG), góp phần bổ sung bằng chứng cho khả năng ứng dụng trong sàng lọc và chẩn đoán sớm UTBMTBG. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, so sánh song song trên 50 BN xơ gan và 50 BN UTBMTBG điều trị nội trú tại Khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2023 - 4/2024. Nồng độ PCSK9 huyết tương được định lượng bằng kỹ thuật ELISA. Kết quả: Nồng độ PCSK9 huyết tương trung vị ở BN UTBMTBG cao hơn rõ rệt so với nhóm BN xơ gan (176,2 so với 102,5 ng/mL; p < 0,001). Nồng độ PCSK9 huyết tương phân biệt UTBMTBG và xơ gan với AUC = 0,78 (95%CI: 0,70 - 0,86). Tại điểm cắt 140 ng/mL, độ nhạy đạt 72,0% và độ đặc hiệu đạt 74,0%. Ngoài ra, nồng độ PCSK9 huyết tương có tương quan thuận mức độ trung bình với AFP (r = 0,46; p < 0,001) và tiểu cầu (r = 0,38; p = 0,002); đồng thời, tương quan nghịch với bilirubin toàn phần (r = -0,41; p < 0,001). Kết luận: Nồng độ PCSK9 huyết tương ở BN UTBMTBG cao hơn rõ rệt so với BN xơ gan (176,2 so với 102,5 ng/mL; p < 0,001), có giá trị phân biệt hai nhóm với AUC = 0,78; tại điểm cắt 140 ng/mL, độ nhạy đạt 72% và độ đặc hiệu đạt 74%. Nồng độ PCSK9 huyết tương cho thấy tiềm năng bước đầu trong hỗ trợ sàng lọc và phát hiện UTBMTBG trên nền xơ gan. Đinh Trọng Hà, Đặng Ngọc Hà, Dương Quang Huy Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1810 BIẾN THỂ BÌNH THƯỜNG TRÊN ĐIỆN NÃO ĐỒ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1925 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng với từng loại biến thể bình thường (BTBT) trên điện não đồ (electroencephalography - EEG). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, tiến cứu và mô tả cắt ngang trên 357 bản ghi EEG của 348 bệnh nhân (BN) đến khám và đo EEG lúc thức và ngủ tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ ngày 22/4/2022 - 15/10/2024 và Bệnh viện Ngoại Thần kinh Quốc tế từ ngày 15/02 - 15/10/2024. Kết quả:Tỷ lệ BTBT chung, BTBT lúc thức và BTBT lúc ngủ lần lượt là 49,9%, 14,3% và 45,3%. BTBT phổ biến nhất là sóng nhọn dương ở vùng chẩm trong giấc ngủ (POSTs) (39,5%), tiếp theo là nhịp mu, sóng nhọn nhỏ và phóng điện nhịp giữa thái dương, nhọn hình hàng rào, sóng Lambda, nhịp theta đường giữa, nhịp cửa sổ, nhịp 14/6. Yếu tố liên quan đến biến thể lúc ngủ bao gồm không có bất thường hình ảnh (OR = 1,58). Các yếu tố liên quan đến biến thể POSTs, bao gồm nữ giới (OR = 1,91), không có bất thường điện não (OR = 2,05), không có cơn động kinh (OR = 3,62), không có bất thường hình ảnh (OR = 1,62), và không có tổn thương vùng trán (OR = 2,24) hoặc vùng chẩm (OR = 4,82) trên hình ảnh học. Kết luận:BTBT phổ biến trên EEG lúc thức và ngủ, do đó, việc mô tả thường quy sẽ giúp phân biệt với các phóng điện động kinh ngoài cơn, từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh động kinh. Mã Lệ Quân, Trương Lê Tuấn Anh, Nguyễn Huy Thắng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1925 KHẢO SÁT GIÁ TRỊ CỦA CD64 TRÊN BẠCH CẦU HẠT TRUNG TÍNH, HLA-DR TRÊN BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN VÀ MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC KHÁC TRONG CHẨN ĐOÁN NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1898 Mục tiêu: Khảo sát giá trị của tế bào bạch cầu đơn nhân (mHLA-DR), bạch cầu đa nhân trung tính (nCD64), và một số dấu ấn sinh học khác (sepsis index - SI, procalcitonin, bạch cầu) trong chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết (sepsis). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 86 bệnh nhân (BN) điều trị tại Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 10/2024 - 4/2025. Kết quả:Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giá trị trung vị của các chỉ số nCD64, mHLA-DR và SI giữa 2 nhóm BN sepsis và không sepsis. SI và nCD64 thể hiện hiệu quả chẩn đoán sepsis rất cao, với diện tích dưới đường cong (area under the curve - AUC) lần lượt là 0,9 và 0,87 với p < 0,01, cao hơn so với mHLA-DR (AUC = 0,31, p < 0,01), procalcitonin (PCT) (AUC = 0,81, p < 0,01) và bạch cầu (BC) (AUC = 0,7, p < 0,01). Với ngưỡng 3.029 phân tử/tế bào, nCD64 cho thấy khả năng chẩn đoán sepsis với độ nhạy chiếm 84,6% và độ đặc hiệu chiếm 79,4%. Đối với SI, tại điểm cắt ≥ 16,3, chỉ số này đạt độ nhạy 94,2% và độ đặc hiệu 79,4% trong phát hiện sepsis. Phối hợp nCD64, mHLA-DR và PCT giúp hỗ trợ chẩn đoán sepsis tốt nhất với AUC = 0,94 (95%CI = 0,9 - 0,99), p < 0,01. Kết luận:nCD64 và SI hỗ trợ chẩn đoán sepsis ở mức độ rất tốt với độ nhạy cao. Phối hợp nCD64, mHLA-DR và SI với PCT, BC làm tăng cao khả năng chẩn đoán sepsis. Nguyễn Văn Thăng, Vũ Sơn Giang, Nguyễn Phương Thảo, Trương Như Quân, Bùi Văn Pháp, Lê Thị Vân Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1898 VAI TRÒ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ THƯỜNG QUY VÀ KHUẾCH TÁN TRONG ĐÁNH GIÁ PHÂN BẬC U THẦN KINH ĐỆM TRÊN LỀU Ở TRẺ EM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1943 Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm hình ảnh và vai trò của cộng hưởng từ (CHT) thường quy và khuếch tán trong phân bậc u thần kinh đệm (UTKĐ) trên lều ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 63 bệnh nhi (BN) UTKĐ trên lều được chụp CHT và có kết quả giải phẫu bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 10/2023 - 11/2025. Các đặc điểm trên CHT thường quy, khuếch tán được phân tích và đối chiếu với mô bệnh học. Kết quả: UTKĐ bậc cao có kích thước, ranh giới không rõ, hoại tử, chảy máu trong u, xâm lấn thể chai, lan qua đường giữa, ngấm thuốc không đồng nhất, phù quanh u và hiệu ứng khối cao hơn UTKĐ bậc thấp, có giá trị ADC thấp hơn UTKĐ bậc thấp (p < 0,05). Dấu hiệu xâm lấn thể chai và lan qua đường giữa có độ đặc hiệu là 92,68%, trong khi ngấm thuốc không đồng nhất có độ nhạy là 90,91%. ADCmin và rADCmin có AUC cao là 0,975 và 0,925, với giá trị cut-off là 0,641 × 10-3 mm²/s và 1,16. Kết luận: Chụp CHT thường quy và khuếch tán có giá trị trong phân bậc UTKĐ trên lều ở trẻ em. Vương Kim Ngân, Lê Thanh Dũng, Trần Phan Ninh, Nguyễn Sỹ Lánh, Hoàng Ngọc Thạch, Nguyễn Duy Hùng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1943 MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM TẾ BÀO, MÔ BỆNH HỌC TỦY XƯƠNG VỚI KIỂU ĐỘT BIẾN GENE Ở BỆNH NHÂN TĂNG TIỂU CẦU TIÊN PHÁT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1984 Mục tiêu:Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm tế bào, mô bệnh học tủy xương với một số kiểu đột biến gene ở bệnh nhân (BN) tăng tiểu cầu tiên phát (essential thrombocythemia - ET). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứuhồi cứu,mô tả cắt ngang trên 208 BN được chẩn đoán xác định ET lần đầu tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương theo tiêu chuẩn của WHO (2016) từ tháng 01/2022 - 12/2024. Kết quả:Tỷ lệ BN có đột biến JAK2, CALR, MPL và âm tính với cả ba đột biến trên lần lượt là 72,6%, 17,3%, 1,4% và 8,7%. Tuổi trung vị là 58,1 (19 - 91); tỷ lệ nhóm nguy cơ cao theo Điểm Tiên lượng Quốc tế cho BN Tăng Tiểu cầu tiên phát (International Prognostic Score for Essential Thrombocythemia - IPSET) là 49,5%; số lượng tiểu cầu (SLTC) trung vị là 1.126 (509 - 3.528) G/L; dải phân bố kích thước tiểu cầu (Platelet Distribution Width - PDW) và thể tích trung bình tiểu cầu (Mean Platelet Volume - MPV) trung bình là 20,4 ± 9,9% và 7,7 ± 1,9fl. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, nhóm nguy cơ theo IPSET, PDW, MPV, số lượng bạch cầu (SLBC) và tiểu cầu, mức độ xơ tủy, hình thái và phân bố mẫu tiểu cầu (MTC) giữa nhóm đột biến JAK2 và nhóm âm tính với cả ba đột biến.Kết luận:Tăng sinh mạnh dòng MTC, kích thước không đồng đều, nhân tăng múi, đứng thành cụm nhỏ hoặc rời rạc, xơ hóa tủy nhẹ là những đặc điểm xuất hiện ở BN ET. Đột biến JAK2 chiếm tỷ lệ cao nhất với tuổi trung bình lớn hơn, tủy tăng sinh mạnh hơn, tỷ lệ nhân tăng múi cao hơn và nguy cơ huyết khối cao hơn so với nhóm âm tính với cả ba đột biến. Nguyễn Thị Thùy Linh, Nguyễn Ngọc Dũng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1984 VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM DOPPLER XUYÊN SỌ TRONG CHẨN ĐOÁN TỒN TẠI LỖ BẦU DỤC TRÊN BỆNH NHÂN TRẺ BỊ ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1928 Mục tiêu:Xác định tỷ lệ tồn tại lỗ bầu dục (patent foramen ovale - PFO) ở bệnh nhân (BN) trẻ bị đột quỵ thiếu máu não (ĐQTMN) không rõ nguyên nhân và đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của siêu âm Doppler xuyên sọ (SADXS) so với siêu âm tim qua thực quản (SATQTQ). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 107 BN ≤ 45 tuổi, được chẩn đoán ĐQTMN không rõ nguyên nhân tại Bệnh viện Nhân dân 115, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 - 9/2024. Tất cả BN được khảo sát SADXS và SATQTQ bằng nghiệm pháp tạo bọt khí. Kết quả: Tỷ lệ phát hiện PFO ở nhóm nghiên cứu đạt khoảng 45,8%. SADXS có độ nhạy đạt 94,8%, độ đặc hiệu đạt 90%, giá trị tiên đoán dương và âm đều cao. Đây là phương pháp dễ thực hiện, không xâm lấn, phù hợp cho tầm soát ban đầu ở BN trẻ bị ĐQTMN. Kết luận:SADXS là kỹ thuật không xâm lấn, thực hiện đơn giản, chi phí thấp và có độ chính xác cao. Do đó, các đơn vị điều trị đột quỵ có thể áp dụng SADXS trên lâm sàng như công cụ sàng lọc ban đầu để tầm soát PFO, đặc biệt ở BN có PFO kích thước nhỏ. Nguyễn Thị Thu Thảo, Trương Lê Tuấn Anh, Nguyễn Huy Thắng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1928 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG CHATGPT TRONG TIÊN LƯỢNG CUỘC ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1967 Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ cần cung cấp cho ChatGPT và đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng ChatGPT trong tiên lượng cuộc đẻ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 500 sản phụ được theo dõi, xử trí chuyển dạ tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6 - 12/2025. Dữ liệu được thu thập tại thời điểm khám ban đầu khi nhập viện theo một biểu mẫu và bộ dữ liệu được chuẩn hóa, nhập vào ChatGPT bằng một mẫu câu hỏi thống nhất để dự đoán phương thức sinh. Kết quả: Tỷ lệ đẻ đường âm đạo là 77,6%, mổ lấy thai chiếm 22,4%; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm sản phụ con so và con rạ (p > 0,05). ChatGPT đạt tỷ lệ tiên lượng đúng chung là 90,2% với độ nhạy trong tiên lượng mổ lấy thai là 58,9% và độ đặc hiệu đạt 99,2%. Tiên lượng của bác sĩ có tỷ lệ đúng chung cao hơn (94,4%), độ nhạy đạt 75,0% và độ đặc hiệu đạt 100%. Bác sĩ phát hiện các trường hợp mổ lấy thai tốt hơn ChatGPT, cả hai đều có độ đặc hiệu cao trong tiên lượng sinh đường âm đạo. Kết luận: ChatGPT có độ chính xác tương đối cao và có tiềm năng trở thành công cụ hỗ trợ trong tiên lượng cuộc đẻ. Đào Nguyên Hùng, Lê Thị Thanh Nga, Đỗ Minh Trung, Nguyễn Hoàng Đạt, Đoàn Mạnh Hùng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1967 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ VANCOMYCIN Ở TRẺ MẮC VIÊM MÀNG NÃO DO PHẾ CẦU https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1851 Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến thất bại điều trị vancomycin ở trẻ mắc viêm màng não (VMN) do phế cầu (Streptococcus pneumoniae). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 59 bệnh nhi mắc VMN do phế cầu được điều trị bằng vancomycin tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2020 - 2025. Các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ đáy vancomycin được phân tích để xác định các yếu tố liên quan đến không đạt đích nồng độ và thất bại điều trị. Kết quả: Tỷ lệ đạt đích nồng độ đáy vancomycin là 18,6%. Các yếu tố liên quan đến không đạt đích trong phân tích đơn biến gồm cân nặng cao hơn, Glasgow < 12 điểm, thở máy khi vào viện và bạch cầu máu > 15 G/L. Phân tích đa biến cho thấy cân nặng là yếu tố độc lập liên quan đến khả năng đạt đích (OR = 0,6; p = 0,021). Tỷ lệ thất bại điều trị là 22,6%. Protein dịch não tủy (DNT) ≥ 2,5 g/L là yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ thất bại điều trị (OR = 7,8; 95%CI: 1,51 - 40,39; p = 0,014). Kết luận: Tỷ lệ đạt đích nồng độ đáy vancomycin ở trẻ mắc VMN do phế cầu còn thấp. Cần cá thể hóa liều vancomycin và theo dõi nồng độ thuốc sớm nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị. Đỗ Thiện Hải, Phạm Văn Đếm, Phạm Văn Châu, Nguyễn Trần Ngọc Hiếu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1851 ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH CHUNG VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ VÀ GIÁ TRỊ DỰ BÁO XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH CẢNH Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU CHU KỲ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2000 Mục tiêu:Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số hình thái và huyết động động mạch cảnh (ĐMC) với một số yếu tố và giá trị dự báo xơ vữa ĐMC (XVĐMC) ở người bệnh (NB) lọc máu chu kỳ (LMCK). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứuhồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 99 NB LMCK tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 12/2025.Kết quả:Đường kính ĐMC (ĐKĐMC) chung là 7,34 ± 0,95mm. Độ dày nội trung mạc ĐMC (intima-media thickness - IMT) là 0,87 ± 0,18mm. Tỷ lệ dày IMT là 56,6%, tỷ lệ có mảng XVĐMC là 19,2%. Vận tốc đỉnh tâm thu (peak systolic velocity - PSV) là 93,56 ± 22,51 cm/s, vận tốc cuối tâm trương (EDV) là 26,35 ± 7,7 cm/s và chỉ số trở kháng (RI) là 0,74 ± 0,07. Tuổi tương quan thuận với IMT, ĐKĐMC, RI và tương quan nghịch với chỉ số PSV, EDV (p < 0,01). BMI tương quan thuận với ĐKĐMC và PSV (p < 0,05). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy tuổi cao, đái tháo đường và giảm albumin máu là các yếu tố độc lập liên quan đến XVĐMC (p < 0,05). Tuổi và albumin máu có giá trị dự báo XVĐMC (AUC: 0,875 và 0,725). Kết luận:Chỉ số hình thái và huyết động ĐMC có liên quan đến một số yếu tố ở NB LMCK. Tuổi và albumin máu có giá trị dự báo XVĐMC, trong đó tuổi có giá trị dự báo tốt hơn. Nguyễn Thị Thu Hà, Hoàng Phúc Khăm, Vũ Duy Kiên, Diêm Thị Vân Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2000 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT CỤC LÂM SÀNG KÉM TRÊN BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP HỆ TUẦN HOÀN TRƯỚC ĐÃ ĐƯỢC TÁI THÔNG BẰNG DỤNG CỤ CƠ HỌC https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1931 Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến kết cục lâm sàng kém trên bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp được tái thông mạch máu bằng dụng cụ cơ học. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 266 BN nhồi máu não cấp do tắc mạch máu lớn được can thiệp nội mạch đạt tái thông thành công (mTICI 2b - 3) tại Khoa Bệnh lý mạch máu não, Bệnh viện Nhân dân 115, nhập viện từ tháng 12/2024 - 7/2025. Các đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng, hình ảnh học và quy trình can thiệp được thu thập. Kết cục lâm sàng được đánh giá bằng thang điểm mRS tại thời điểm 90 ngày. Phân tích hồi quy đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập với kết cục lâm sàng kém. Kết quả: Tỷ lệ BN có kết cục lâm sàng kém (mRS 3 - 6) tại thời điểm 90 ngày chiếm 62,4%. Các yếu tố liên quan độc lập với kết cục lâm sàng kém bao gồm nam giới, tuổi cao, hút thuốc lá, điểm NIHSS cao lúc nhập viện hoặc sau 24 giờ. Kết luận: Kết cục lâm sàng kém sau tái thông mạch máu thành công vẫn còn phổ biến. Nhận diện các yếu tố tiên lượng quan trọng có thể hỗ trợ lựa chọn BN và tối ưu hóa chiến lược điều trị. Ngô Thị Thanh Trúc, Nguyễn Huy Thắng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1931 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG BIỂU HIỆN LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM CỦA U LYMPHO TẾ BÀO B LỚN VÀ U LYMPHO HODGKIN THỂ CỔ ĐIỂN NGUYÊN PHÁT TRUNG THẤT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1974 Mục tiêu: So sánh đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm giữa nhóm bệnh nhân (BN) mắc u lympho tế bào B lớn nguyên phát trung thất (primary mediastinal large B-cell lymphoma - PMBCL) và u lympho Hodgkin thể cổ điển (classical Hodgkin lymphoma - CHL) nguyên phát trung thất. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, so sánh trên 20 BN được chẩn đoán PMBCL và 11 BN được chẩn đoán CHL nguyên phát trung thất tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2020 - 2025. Kết quả: Nhóm PMBCL có xu hướng gặp nhiều ở nữ giới trẻ tuổi. Tỷ lệ gặp biến chứng tràn dịch màng phổi, màng tim, khối u kích thước lớn (> 10cm) và nồng độ LDH (lactate dehydrogenase) tăng ở nhóm PMBCL cao hơn so với nhóm CHL. Về mô bệnh học, PMBCL đặc trưng với tế bào u phân bố lan tỏa, tế bào sáng (clear cell), trong khi CHL chủ yếu gặp nền viêm và RS (Reed-Sternberg)/RS-like cell (tế bào dạng Reed-Sternber). Đặc điểm biểu hiện của các marker hóa mô miễn dịch cũng rất có giá trị trong chẩn đoán phân biệt PMBCL và CHL. Kết luận: Mặc dù PMBCL và CHL trung thất có nhiều điểm tương đồng chồng lấp nhưng vẫn tồn tại các đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm giúp định hướng phân biệt. Nguyễn Ngọc Dũng, Phạm Thị Nguyệt Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1974 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TIÊU SỢI HUYẾT ĐƯỜNG TĨNH MẠCH Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO CẤP KHÔNG RÕ THỜI ĐIỂM KHỞI PHÁT CÓ BẤT TƯƠNG XỨNG XUNG KHUẾCH TÁN - XUNG ĐẢO CHIỀU XÓA DỊCH TRÊN PHIM CỘNG HƯỞNG TỪ SỌ NÃO https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1952 Mục tiêu:Đánh giá hiệu quả điều trị tiêu sợi huyết (TSH) đường tĩnh mạch ở người bệnh (NB) đột quỵ nhồi máu não (NMN) cấp không rõ thời điểm khởi phát có bất tương xứng xung khuếch tán - xung đảo chiều xóa dịch (bất tương xứng DWI-FLAIR) trên hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sọ não. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 40 NB đột quỵ NMN cấp không rõ thời điểm khởi phát có bất tương xứng DWI-FLAIR trên MRI sọ não được điều trị TSH đường tĩnh mạch tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. Kết quả: Có 22 NB nam (55%), tuổi trung bình là 67,5 ± 12,4. Điểm GCS (Glasgow Coma Scale), MRC (Medical Research Council) tăng lên có ý nghĩa thống kê khi ra viện so với khi vào viện (p < 0,05). Điểm NIHSS trung bình giảm dần sau 1 giờ, 24 giờ TSH và khi ra viện (p < 0,05) so với thời điểm nhập viện. Sau điều trị, 30/40 NB (75%) có điểm NIHSS giảm > 4 điểm khi ra viện, 72,5% NB có mRS ở mức 0 - 1 điểm. Không có NB nào tử vong, 2 NB chảy máu tạng nghiêm trọng và 3 NB chảy máu não sau điều trị. Kết luận: Điều trị đột quỵ NMN cấp không rõ thời điểm khởi phát có bất tương xứng DWI-FLAIR trên MRI sọ não bằng TSH đường tĩnh mạch có hiệu quả tốt. Cần thực hiện thêm các nghiên cứu để đánh giá kết cục lâu dài ở nhóm BN này. Vũ Văn Huỳnh, Nguyễn Đăng Hải, Nguyễn Huy Ngọc, Đặng Phúc Đức, Nguyễn Minh Hiếu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1952 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH HỆ THỐNG Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ KHÔNG DO BỆNH VAN TIM ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ THUỐC KHÁNG ĐÔNG TÁC DỤNG TRỰC TIẾP ĐƯỜNG UỐNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1903 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến huyết khối động mạch hệ thống (HKĐMHT) ở bệnh nhân (BN) rung nhĩ (RN) không do bệnh van tim được điều trị bằng thuốc kháng đông tác dụng trực tiếp đường uống (direct oral anticoagulant - DOAC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 182 BN RN không do bệnh van tim, có chỉ định điều trị bằng DOAC tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 12/2023 - 6/2025. Các BN được theo dõi trong thời gian 12 tháng. Biến cố kết cục chính là HKĐMHT. Phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Tuổi trung vị của BN là 77 (IQR: 68 - 84), nữ giới chiếm 54,4%. Tỷ lệ HKĐMHT trong thời gian theo dõi là 4,9%. Trong phân tích đa biến, tuổi ≥ 85 (OR = 16,27; 95%CI: 2,92 - 90,61; p = 0,001) và tiền căn đột quỵ thiếu máu não (ĐQTMN) (OR = 6,53; 95%CI: 1,32 - 32,36; p = 0,022) là các yếu tố liên quan độc lập với HKĐMHT. Kết luận: Ở BN RN không do bệnh van tim được điều trị bằng DOAC, nguy cơ HKĐMHT vẫn ở mức đáng kể. Nhóm BN rất cao tuổi và có tiền căn ĐQTMN cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ hơn trong thực hành lâm sàng. Hoàng Huy Trường, Lê Hải Thạch, Lê Công Tấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1903 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VI SINH VÀ MỨC ĐỘ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG Ở BỆNH NHI THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1848 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các tác nhân vi sinh và mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) ở bệnh nhi thất bại điều trị ban đầu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 bệnh nhi từ 2 tháng đến < 16 tuổi mắc VPCĐ thất bại với kháng sinh kinh nghiệm ban đầu sau 72 giờ từ tháng 6/2024 - 5/2025 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp. Bệnh phẩm dịch hút khí quản qua mũi (nasotracheal aspiration - NTA) được nuôi cấy phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Kết quả: Tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 51,0% (50/98). Các vi khuẩn được phân lập chính là H. influenzae (38,0%), S. pneumoniae (22,0%) và S. aureus (22,0%). Tỷ lệ đề kháng cao được ghi nhận: 94,7% H. influenzae kháng trimethoprim/sulfamethoxazolevà 89,5% kháng ampicillin; 100% S. pneumoniae kháng erythromycin; 100% chủng S. aureus phân lập được là MRSA (kháng cefoxitin). Tuy nhiên, S. pneumoniae, S. aureus vẫn còn nhạy cảm cao với vancomycin và linezolid (100%). Kết luận: H. influenzae, S. pneumoniae và S. aureus là những tác nhân vi khuẩn hàng đầu được phân lập từ nuôi cấy ở bệnh nhi mắc VPCĐ thất bại điều trị ban đầu, với tỷ lệ đề kháng rất cao đối với các kháng sinh thường dùng trong điều trị kinh nghiệm. Trần Quang Khải, Nguyễn Thị Kim Thoa Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1848 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIA TĂNG THỂ TÍCH KHỐI MÁU TỤ Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT NÃO TỰ PHÁT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1929 Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa vị trí xuất huyết (thùy não so với không thùy não) và sự gia tăng thể tích khối máu tụ (hematoma expansion - HE) trong giai đoạn cấp. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 151 bệnh nhân (BN) xuất huyết não (XHN) tự phát nhập viện trong 6 giờ đầu tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định và Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 01 - 9/2020. BN được chụp cắt lớp vi tính (computed tomography - CT) sọ não lúc nhập viện và kiểm tra lần 2 trong vòng 36 giờ. HE được xác định khi thể tích khối máu tụ tăng ≥ 33% so với ban đầu. Kết quả: Tỷ lệ HE chung là 25,8%. Nhóm BN XHN thùy có tỷ lệ HE cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm BN XHN không thùy (34,9% so với 18,8%; p = 0,026). Phân tích đa biến cho thấy vị trí XHN thùy (p = 0,02) và huyết áp tâm thu (HATT) ban đầu cao (p = 0,004) là các yếu tố tiên lượng độc lập cho HE. Nhóm XHN thùy cũng có tỷ lệ kết cục xấu (mRS > 3) cao hơn tại ngày thứ 30. Kết luận: Vị trí xuất huyết tại thùy não có liên quan chặt chẽ với nguy cơ HE và kết cục lâm sàng xấu tại ngày thứ 30. Lê Kim Khánh, Nguyễn Huy Thắng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1929 KHẢO SÁT CHỈ SỐ BRI (BODY ROUNDNESS INDEX) Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 PHÁT HIỆN LẦN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1951 Mục tiêu: Khảo sát chỉ số BRI (body roundness index) và mối liên quan với một số chỉ số nhân trắc học truyền thống ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 phát hiện lần đầu.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có so sánh đối chứng trên 207 đối tượng, gồm 107 BN ĐTĐ type 2 phát hiện lần đầu và 100 người khỏe mạnh tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6 - 12/2025.Kết quả: Chỉ số BRI ở nhóm bệnh cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (4,25 so với 3,80; p < 0,001). BRI có mối tương quan chặt chẽ với vòng eo (waist circumference - WC), tỷ số vòng eo/vòng mông (waist-to-hip ratio - WHR) và tỷ số vòng eo/chiều cao (waist-to-height ratio - WHtR) và tương quan mức trung bình với chỉ số khối cơ thể (body mass index - BMI). Sự khác biệt về BRI giữa hai nhóm thể hiện rõ nhất ở các đối tượng có BMI < 23 kg/m² và không béo bụng theo WC.Nhóm bệnh có chỉ số BRI cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng ở nhóm < 60 tuổi và ở cả hai giới. Kết luận:Chỉ số BRI có liên quan chặt với các chỉ số nhân trắc học phản ánh béo phì trung tâm và cao hơn ở BN ĐTĐ type 2 phát hiện lần đầu so với người khỏe mạnh, đặc biệt ở các đối tượng chưa biểu hiện béo phì rõ rệt theo các chỉ số nhân trắc học truyền thống. Ninh Vân Anh, Đoàn Việt Cường Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1951 ẢNH HƯỞNG CỦA SUY YẾU TRÊN CÁC KẾT CỤC NGẮN HẠN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI GÃY LÚN ĐỐT SỐNG DO LOÃNG XƯƠNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1792 Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tình trạng suy yếu lên các kết cục ngắn hạn gồm mức độ đau, té ngã và nhập viện ở bệnh nhân (BN) cao tuổi bị gãy lún đốt sống (GLĐS) mới do loãng xương. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc 3 tháng trên 187 BN ≥ 60 tuổi, GLĐS do loãng xương tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2024 - 6/2025. Suy yếu được đánh giá bằng thang điểm suy yếu lâm sàng (clinical frailty scale - CFS); mức độ đau được đo bằng thang điểm VAS (visual analog scale). Kết quả: Tỷ lệ suy yếu (CFS ≥ 5) là 62,0%. Điểm VAS trung vị giảm từ 5 xuống 3 sau 3 tháng (p < 0,001); 85,7% BN giảm đau, 9,9% không thay đổi và 4,4% tăng mức độ đau. Tỷ lệ té ngã ở nhóm suy yếu cao hơn so với nhóm không suy yếu (8,0% so với 2,8%; p = 0,207). Tỷ lệ nhập viện ở nhóm suy yếu cao gấp 2 lần so với nhóm không suy yếu (31,86% so với 15,49%; p = 0,013). Kết luận: Suy yếu xảy ra phổ biến ở BN cao tuổi GLĐS do loãng xương và là yếu tố liên quan đến kết cục lâm sàng bất lợi. Cần sàng lọc sớm các trường hợp suy yếu để tối ưu hóa điều trị. Nguyễn Thị Thùy Trang, Nguyễn Châu Tuấn, Cao Thanh Ngọc Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1792 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TIỀN SỬ GIA ĐÌNH MẮC TĂNG HUYẾT ÁP VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1862 Mục tiêu: Mô tả mức độ chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định mối liên quan giữa tiền sử gia đình có người mắc tăng huyết áp (THA) với các lĩnh vực CLCS ở bệnh nhân (BN) THA điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu trên 209 BN THA ≥ 18 tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên từ tháng 01 - 6/2023. Kết quả: Phần lớn BN có CLCS ở mức trung bình (70,3%), với điểm trung bình CLCS chung cho 4 lĩnh vực là 54,97 ± 13,08. Xét theo từng lĩnh vực, điểm CLCS trung bình của lĩnh vực sức khỏe thể chất là 52,86 ± 16,26; lĩnh vực tâm lý là 52,90 ± 15,65; lĩnh vực quan hệ xã hội là 59,77 ± 13,15 và lĩnh vực môi trường là 54,33 ± 13,26. Phân tích mối liên quan cho thấy tiền sử gia đình mắc THA có liên quan đến CLCS ở lĩnh vực tâm lý. Kết luận: Phần lớn đối tượng trong nghiên cứu có CLCS ở mức chưa cao (74,6%). Trong đó, tỷ lệ CLCS đạt mức trung bình chiếm ưu thế (70,3%). Tiền sử có gia đình mắc THA được xác định là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến CLCS lĩnh vực tâm lý. Hà Thị Thanh Trang Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1862 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: KẾT QUẢ ĐẶT SHUNT DẪN LƯU MÀNG PHỔI - BUỒNG ỐI ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI THAI NHI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1917 Nghiên cứu mô tả kết quả đặt shunt dẫn lưu màng phổi - buồng ối điều trị tràn dịch màng phổi (TDMP) thai nhi thành công tại Trung tâm Can thiệp Bào thai, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Báo cáoca lâm sàng này được thực hiện trên01 bệnh nhân (BN) mang thai tự nhiên được chẩn đoán TDMP trái ở tuần thứ 22. BN được chọc ối làm xét nghiệm di truyền cho kết quả Karyotype, kỹ thuật phân tích microarray (Array), Cytomegalovirus (CMV) và Parvovirus B19, Real-time PCR không phát hiện bất thường. Siêu âm thai 25 tuần 3 ngày thấy TDMP trái nặng gây xẹp phổi, chèn ép tim và đã được đặt shunt dẫn lưu màng phổi trái - buồng ối. Sau thủ thuật, siêu âm ngoại trú thấy phổi trái có lớp dịch mỏng và hết sau vài tuần, phổi nở tốt, shunt dẫn lưu đúng vị trí. Mổ lấy thai ở tuần thứ 34 do chuyển dạ, trẻ nặng 2.350g, Apgar 9 - 10. Sau sinh, shunt dẫn lưu được rút ra và hình ảnh X-quang thấy phổi nở tốt, không mờ góc sườn hoành. Điều trị TDMP thai nhi bằng phương pháp đặt shunt màng phổi - buồng ối là lựa chọn điều trị khả thi, ít xâm lấn. Đây là một trong những ca bệnh đầu tiên được báo cáo tại Việt Nam nhấn mạnh những lợi ích tiềm tàng của đặt shunt dẫn lưu sớm, giúp giảm các rủi ro và cải thiện kết quả chu sinh. Phan Thị Huyền Thương, Đỗ Tuấn Đạt, Mai Trọng Hưng, Đinh Thúy Linh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1917 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KETAMINE LIỀU DUY NHẤT TRONG GIẢM ĐAU ĐA MÔ THỨC SAU MỔ Ở BỆNH NHÂN NÂNG NGỰC BẰNG TÚI ĐỘN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1883 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của ketamine liều duy nhất trong giảm đau đa mô thức sau phẫu thuật nâng ngực bằng túi độn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng trên 128 bệnh nhân (BN) có sức khỏe trước mổ ASA I - II (theo Phân loại của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ - ASA), được phẫu thuật nâng ngực bằng túi độn dưới cơ ngực lớn tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01 - 11/2025. Nhóm 1 (n = 64) được tiêm tĩnh mạch ketamine liều duy nhất 0,6 mg/kg khi kết thúc cuộc mổ, kết hợp giảm đau sau mổ bằng phương pháp BN tự điều khiển đường tĩnh mạch (intravenous patient controlled analgesia: IV-PCA) fentanyl; nhóm 2 (n = 64) chỉ dùng giảm đau sau mổ bằng IV-PCA fentanyl đơn thuần. Đánh giá điểm đau theo thang điểm đau VAS (visual analog scale) khi nghỉ và vận động, tổng liều fentanyl, số lần bolus, nhu cầu giải cứu đau, tác dụng không mong muốn trong 24 giờ đầu sau mổ. Kết quả: Tổng lượng fentanyl tiêu thụ ở nhóm 1 thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 2 (405,9 ± 57,0µg so với 662,5 ± 82,2µg; p < 0,05), số lần thực hiện bolus thêm thuốc giảm đau thấp hơn ở nhóm 1, điểm VAS ở hai nhóm là tương đương nhau. Tỷ lệ BN buồn nôn, chóng mặt không khác biệt giữa hai nhóm, không ghi nhận trường hợp BN nào có ảo giác. Kết luận: Ketamine liều duy nhất giúp giảm đáng kể nhu cầu opioid sau phẫu thuật nâng ngực mà không làm tăng tác dụng phụ, là thành phần hiệu quả trong phác đồ giảm đau đa mô thức theo hướng hạn chế opioid. Võ Văn Hiển, Trần Phi Hùng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1883 KẾT CỤC THAI KỲ VÀ TÌNH TRẠNG SAU SINH CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP THAI NHI CÓ GIÃN NÃO THẤT ĐƠN THUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1906 Mục tiêu:Đánh giá hướng xử trí, kết cục thai kỳ và tình trạng sau sinh của các trường hợp thai nhi có giãn não thất (GNT) đơn thuần. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 119 thai phụ có thai được chẩn đoán GNT đơn thuần tại Trung tâm Sàng lọc, Chẩn đoán Trước sinh và Sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 01/2022 - 12/2023. Các trường hợp được theo dõi kết cục đến 6 tháng sau sinh. Kết quả:Tỷ lệ giữ thai chiếm 84%, đình chỉ thai là 16%. Các yếu tố liên quan đến quyết định đình chỉ thai bao gồm tuổi thai phát hiện sớm (p < 0,001), mức độ GNT nặng (p < 0,001), GNT hai bên (p < 0,001), có bất thường di truyền. 100% trường hợp GNT một bên được giữ thai. Trong nhóm giữ thai, có 97,0% thai nhi sống khỏe không cần can thiệp, 87,9% trẻ không còn GNT sau sinh, sau 6 tháng chỉ còn 2,0% trường hợp có GNT. Kết luận:Đa số thai GNT đơn thuần có kết cục thai kỳ tốt với tỷ lệ giữ thai cao (84,0%). Các yếu tố liên quan đến quyết định đình chỉ thai bao gồm tuổi thai phát hiện sớm, mức độ GNT nặng, GNT hai bên và bất thường di truyền. Sau 6 tháng theo dõi, chỉ còn 2,0% trẻ có GNT. GNT đơn thuần mức độ nhẹ và một bên có tiên lượng tốt. Mai Trọng Hưng, Nguyễn Tài Đức, Nguyễn Hùng, Đinh Thúy Linh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1906 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT XƯƠNG HAI VỊ TRÍ ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG GÒ MÁ TOÀN BỘ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1884 Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật kết xương gò má hai vị trí trong điều trị gãy xương gò má toàn bộ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 55 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán gãy xương gò má toàn bộ, được phẫu thuật kết xương hai vị trí tại Khoa Hàm mặt, Tạo hình, Bệnh viện Quân y 103 (BVQY103) từ tháng 01 - 7/2025. Kết quả:Độ tuổi thường gặp là từ 20 - 40 (47,3%), đa số là nam giới (87,3%), nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông (90,9%). Loại hình gãy được lựa chọn là gãy gò má toàn bộ có di lệch xoay, tương ứng nhóm IV, V theo phân loại Knight - North. Đa số BN có kết quả điều trị về thẩm mỹ và chức năng tốt gồm gò má cân đối (90,9%), liền vết mổ tốt (85,5%), hình ảnh X-quang xương gò má đạt kết quả tốt (92,7%), sẹo sau mổ tốt (100%), há miệng tốt (100%), chức năng thần kinh tốt (96,4%), thị lực tốt (96,4%).Kết luận: Phẫu thuật kết xương hai vị trí điều trị gãy xương gò má toàn bộ cho kết quả tốt về chức năng và thẩm mỹ, có thể áp dụng cho đa số BN gãy xương gò má toàn bộ trên lâm sàng. Nguyễn Hùng Thắng, Đặng Minh Vương Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1884 GIÁ TRỊ TIÊN ĐOÁN CỦA CHỈ SỐ TƯỚI MÁU NGOẠI VI TRONG DỰ BÁO TỤT HUYẾT ÁP SAU KHỞI MÊ Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI PHẪU THUẬT Ổ BỤNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1955 Mục tiêu: Xác định giá trị tiên đoán của chỉ số tưới máu ngoại vi (perfusion index - PI) trong dự báo tụt huyết áp sau khởi mê ở bệnh nhân (BN) cao tuổi phẫu thuật ổ bụng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, quan sát trên 120 BN ≥ 65 tuổi, ASA I - III, phẫu thuật gan mật và tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 11/2025. Giá trị PI nền được ghi nhận trước khởi mê. Tụt huyết áp được xác định khi huyết áp trung bình (HATB) < 65mmHg hoặc giảm ≥ 30% so với huyết áp nền trong 5 phút đầu sau tiêm propofol. Phân tích ROC và hồi quy logistic đa biến được sử dụng. Kết quả: Tỷ lệ tụt huyết áp sau khởi mê là 43,3%. Nhóm tụt huyết áp có PI nền thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm không tụt huyết áp (2,12 ± 0,78 so với 3,41 ± 0,96; p < 0,001). Diện tích dưới đường cong ROC (AUC) đạt 0,790 (95%CI: 0,708 - 0,872). Ngưỡng PI = 2,54 cho độ nhạy là 79,4% và độ đặc hiệu là 69,2%. PI ≤ 2,54 là yếu tố tiên đoán độc lập của tụt huyết áp (OR = 4,35; 95%CI: 2,01 - 9,41; p < 0,001), cùng với ASA II - III và liều propofol. Kết luận: PI nền là yếu tố tiên đoán độc lập tụt huyết áp sau khởi mê ở BN cao tuổi phẫu thuật ổ bụng. Đánh giá PI trước khởi mê có thể giúp phân tầng nguy cơ và điều chỉnh chiến lược gây mê nhằm tăng cường an toàn chu phẫu. Nguyễn Đăng Thứ, Trần Hoài Nam, Võ Văn Hiển, Trần Đắc Tiệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1955 MỐI LIÊN QUAN CỦA THIẾU MÁU TRƯỚC PHẪU THUẬT VỚI BIẾN CHỨNG SỚM SAU PHẪU THUẬT VÀ RÒ MIỆNG NỐI SAU CẮT THỰC QUẢN NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1940 Mục tiêu:Đánh giá mối liên quan của thiếu máu trước phẫu thuật (PT) với biến chứng sớm sau PT và rò miệng nối sau cắt thực quản nội soi điều trị ung thư thực quản. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 152 bệnh nhân (BN) được PT cắt thực quản tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn từ tháng 3/2012 - 12/2025. Thiếu máu trước PT được xác định và phân loại theo mức độ nghiêm trọng. Mối liên quan giữa thiếu máu trước PT và biến chứng sớm sau PT được phân tích bằng hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu trước PT là 42,1%. Tỷ lệ BN có biến chứng sớm sau PT là 28,9%, sự khác biệt không có ý nghĩa giữa nhóm thiếu máu và không thiếu máu (32,8% so với 26,1%; OR = 1,38; p = 0,37). Tỷ lệ rò miệng nối cao hơn rõ rệt ở nhóm thiếu máu so với nhóm không thiếu máu trước PT (18,8% so với 4,5%; OR = 4,85; p = 0,005). Phân tích đa biến cho thấy thiếu máu trước PT là yếu tố làm tăng tỷ lệ rò miệng nối (OR = 7,86; 95%CI: 1,97 - 31,45; p = 0,004), nhưng không liên quan độc lập với biến chứng sau PT chung. Kết luận: Thiếu máu trước PT không làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ biến chứng sớm sau PT, nhưng là yếu tố làm tăng tỷ lệ rò miệng nối sau PT cắt thực quản triệt căn. Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Gia Khánh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1940 MỨC ĐỘ HỢP TÁC Ở TRẺ EM CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ NHA KHOA DƯỚI GÂY MÊ TẠI VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT, ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VÀ BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI TỪ NĂM 2023 - 2024 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1819 Mục tiêu:Nghiên cứu mức độ hợp tác của trẻ em điều trị nha khoa có chỉ định gây mê. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 trẻ em < 16 tuổi, đánh giá hành vi theo Thang điểm Phân độ Hành vi của Frankl (rất tiêu cực, tiêu cực, tích cực và rất tích cực) trước và khi được khám tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nộitừ tháng 7/2023 - 5/2024. Kết quả: Tuổi trung bình của trẻ là 4,9 ± 1,45; trẻ em có hàm răng sữa chiếm 76%, chỉ số DMFT (Decayed, Missing, Filled Teeth) trung bình là 16,74 ± 4,78. Lý do chính gây mê là đa sâu răng (80%) và không hợp tác (94%). Trước khám, tỷ lệ trẻ em có thái độ tích cực là 64% nhưng khi khám giảm còn 6%; tỷ lệ rất tiêu cực và tiêu cực tăng lên lần lượt là 32% và 62%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hợp tác theo tuổi (p = 0,85) hoặc giới tính (p = 0,603). Kết luận: Tỷ lệ trẻ em có hành vi tiêu cực cao khi khám nên bác sĩ cần chú trọng kỹ năng quản lý hành vi để giảm chỉ định điều trị nha khoa dưới gây mê. Trương Hoàng Lệ Thuỷ, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Vũ Anh, Võ Trương Như Ngọc, Nguyễn Văn Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1819 KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN NGOÀI PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN BẰNG LƯỚI NHÂN TẠO https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1816 Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (totally extraperitoneal - TEP) điều trị thoát vị bẹn (TVB) bằng lưới nhân tạo và xác định các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 86 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật nội soi TEP từ tháng 01/2024 - 9/2025 tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Kết quả: Tuổi trung bìnhlà 44,9 ± 12,4; BN nam chiếm 96,5%; thoát vị một bên chiếm 91,9%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 54,6 ± 11,3 phút; tỷ lệ biến chứng là 16,3%; thời gian nằm viện trung bình là 2,6 ± 1,3 ngày. Tỷ lệ chất lượng cuộc sống (CLCS) tốt chiếm 93,0%, chưa tốt chiếm 7,0%. Các yếu tố liên quan đến CLCS chưa tốt bao gồm bệnh nội khoa kèm theo (p < 0,05), TVB hai bên, có tiền sử phẫu thuật vùng bẹn và thời gian phục hồi > 48 giờ (p < 0,01). Kết luận: Phẫu thuật nội soi TEP điều trị TVB là an toàn và hiệu quả. Cần đánh giá kết quả xa bao gồm CLCS sau phẫu thuật. La Văn Phú, Nguyễn Thị Bạch Mai, Lê Trung Hiếu, Nguyễn Văn Quỳnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1816 ĐẶC ĐIỂM NHIỄM KHUẨN ACINETOBACTER BAUMANNII VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1942 Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm nhiễm khuẩn (NK) Acinetobacter baumannii (A. baumannii) và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) bỏng nặng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 46 BN bỏng nặng điều trị tại Khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 2023. Kết quả:Vi khuẩn (VK) A. baumannii là căn nguyên chính gây NK huyết (sepsis) trên BN bỏng nặng (mẫu máu: 40,74% và sinh thiết vết thương: 50,00%). Tỷ lệ VK A. baumannii đa kháng là 100%. Giá trị trung vị nồng độ procalcitonin ở BN sepsis do A. baumannii là 3,61 ng/mL, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sepsis do VK khác (p < 0,01). Giảm mỗi 1 ng/mL nồng độ procalcitonin và 1 mmol/L natri máu làm tăng khả năng sepsis do A. baumannii lần lượt 1,01 và 1,10 lần (p < 0,05). Kết luận: Tất cả BN nhiễm vi khuẩn A. baumannii đa kháng. Nồng độ procalcitonin và natri huyết tương là các yếu tố liên quan đến NK do A. baumannii ở BN bỏng nặng. Trần Đình Hùng, Ngô Tuấn Hưng, Trần Đình Trung Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1942