Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm <p>Học viện Qu&acirc;n y l&agrave; cơ sở đ&agrave;o tạo đại học, sau đại học ng&agrave;nh Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc ph&ograve;ng với 3 nhiệm vụ ch&iacute;nh trị trung t&acirc;m l&agrave; đ&agrave;o tạo c&aacute;n bộ qu&acirc;n y c&aacute;c cấp, đội ngũ nh&acirc;n vi&ecirc;n y tế phục vụ sự nghiệp c&ocirc;ng nghiệp h&oacute;a, hiện đại h&oacute;a đất nước; điều trị v&agrave; nghi&ecirc;n cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học qu&acirc;n sự; kh&ocirc;ng ngừng phấn đấu với vị tr&iacute; của một trong những trường đại học y dược h&agrave;ng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở th&agrave;nh trung t&acirc;m đ&agrave;o tạo nh&acirc;n lực, nghi&ecirc;n cứu khoa học, ph&aacute;t triển v&agrave; ứng dụng c&aacute;c kỹ thuật ti&ecirc;n tiến trong c&aacute;c lĩnh vực y học qu&acirc;n sự v&agrave; y học chung của quốc gia v&agrave; quốc tế.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự l&agrave; cơ quan ng&ocirc;n luận th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Học viện Qu&acirc;n y, trực thuộc Ban Gi&aacute;m đốc Học viện; được cấp Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 345/GP-BVHTT ng&agrave;y 08/8/2002 v&agrave; xuất bản 02 th&aacute;ng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn c&oacute; thể trao đổi với c&aacute;c đồng nghiệp tr&ecirc;n to&agrave;n thế giới về th&agrave;nh tựu nghi&ecirc;n cứu y học, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự đ&atilde; đề nghị Tổng cục Ch&iacute;nh trị cho ph&eacute;p tạp ch&iacute; được đưa c&aacute;c b&agrave;i viết đ&atilde; đăng tải l&ecirc;n mạng internet v&agrave; đ&atilde; được sự đồng &yacute; của Thủ trưởng Tổng cục Ch&iacute;nh trị (theo c&ocirc;ng văn số 440/VP của Văn ph&ograve;ng Tổng cục ng&agrave;y 16/5/2005). Đ&acirc;y l&agrave; bước ph&aacute;t triển quan trọng của Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự, tạo điều kiện cho tạp ch&iacute; được trao đổi với c&aacute;c tạp ch&iacute; c&oacute; uy t&iacute;n tr&ecirc;n thế giới. Ng&agrave;y 21/06/2006, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ng&agrave;y 6/5/2026, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu ti&ecirc;n cho tới nay, Tạp ch&iacute; Y Dược Qu&acirc;n sự đ&atilde; được cấp ph&eacute;p sửa đổi n&acirc;ng kỳ xuất bản l&ecirc;n 9 số/năm (Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 1149/GP-BTTTT năm 2012 v&agrave; số 594/GP-BTTTT năm 2022) v&agrave; c&aacute;c số Tạp ch&iacute; đặc biệt cho c&aacute;c Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm n&acirc;ng cao chất lượng tạp ch&iacute; hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp ch&iacute; đ&atilde; x&acirc;y dựng website ri&ecirc;ng để xuất bản online v&agrave; gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o, đồng thời đ&atilde; thực hiện phản biện k&iacute;n 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự lu&ocirc;n nỗ lực khẳng định thương hiệu của m&igrave;nh, đ&oacute;ng g&oacute;p t&iacute;ch cực phục vụ c&ocirc;ng t&aacute;c đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; điều trị. Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự thực sự trở th&agrave;nh cơ quan ng&ocirc;n luận về chuy&ecirc;n m&ocirc;n khoa học, đ&agrave;o tạo v&agrave; điều trị của Học viện Qu&acirc;n y, s&aacute;t c&aacute;nh c&ugrave;ng c&aacute;c đơn vị trong đội h&igrave;nh Học viện viết n&ecirc;n những trang v&agrave;ng th&agrave;nh t&iacute;ch hơn 70 năm x&acirc;y dựng v&agrave; trưởng th&agrave;nh của Học viện Qu&acirc;n y.</p> vi-VN tcydhqs@vmmu.edu.vn (Journal of Military Pharmaco-medicine) tcydhqs@vmmu.edu.vn (VOJS) CN, 28 Thg 6 2026 04:45:20 +0700 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 CẬP NHẬT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP CỨU BAN ĐẦU VẾT THƯƠNG THẤU NGỰC TRONG CHIẾN ĐẤU https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1896 Trong chiến tranh hiện đại, quy mô và phương thức chiến đấu đã có nhiều thay đổi, dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu tổn thương, kỹ thuật và chiến thuật điều trị. Từ yêu cầu thực tiễn đó, việc cấp cứu và xử trí ban đầu đối với vết thương thấu ngực trong chiến đấu cũng đòi hỏi phải cập nhật và thay đổi về thái độ, thứ tự ưu tiên xử trí phù hợp với điều kiện chiến đấu và những trang thiết bị thiết yếu. Một trong những mô hình tiên tiến đã được chứng minh tính ưu việt tại chiến trường hiện đại là Mô hình Chăm sóc thương vong trong chiến thuật (tactical combat casualty care - TCCC). Bài viết này là tổng quan và cập nhật một số vấn đề của TCCC về cấp cứu ban đầu vết thương thấu ngực trong chiến đấu; từ đó, đưa ra một số đề xuất nhằm ứng dụng và nâng cao hiệu quả cấp cứu ban đầu vết thương thấu ngực trong điều kiện dã chiến. Lê Việt Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1896 ĐỘC TÍNH CẤP ĐƯỜNG UỐNG VÀ TÁC DỤNG TĂNG LỰC CỦA DỊCH CHIẾT RỄ SÂM NAM NÚI DÀNH (RADIX CALLERYAE SPECIOSAE) TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1973 Mục tiêu:Đánh giá độc tính cấp đường uống và tác dụng tăng cường sinh lực của dịch chiết nước rễ Sâm nam núi Dành (dịch chiết SNND) trên chuột nhắt trắng chủng Swiss. Phương pháp nghiên cứu: Đánh giá độc tính cấp được tiến hành theo Hướng dẫn của Bộ Y tế. Tác dụng tăng lực được đánh giá qua mô hình trụ quay rotarod và bơi cưỡng bức. Kết quả: Với liều cao nhất 300,0g dược liệu khô/kg thể trọng (g/kg), không có chuột chết sau 7 ngày, chuột khỏe mạnh, bình thường. Chưa xác định được liều LD50. Với liều 3,6; 4,8 và 9,6 g/kg/ngày x 14 ngày, SNND làm tăng rõ rệt thời gian bám trụ ở ngày 7 và 14 (p < 0,05), tăng tỷ lệ bám trụ trong 10 phút và kéo dài thời gian bơi của chuột so với lô chứng (p < 0,001). Kết luận: SNND không gây độc tính cấp khi đường uống ở liều 300,0 g/kg và có tác dụng tăng cường sinh lực cho chuột nhắt trắng ở liều 3,6; 4,8 và 9,6 g/kg/ngày x 14 ngày. Nguyễn Thùy Ngân, Trần Danh Việt, Phạm Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Nguyễn Trung Nghĩa, Nguyễn Thị Minh Thu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1973 KHẢO SÁT HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA IN VITRO VÀ ĐỘC TÍNH BÁN TRƯỜNG DIỄN CỦA CAO CHIẾT MẠCH MÔN (OPHIOPOGON JAPONICUS) TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1946 Mục tiêu: Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa và độc tính bán trường diễn của cao chiết Mạch môn (Ophiopogon japonicus - CCMM). Phương pháp nghiên cứu: Hoạt tính chống oxy hóa in vitro được xác định bằng phương pháp khử gốc tự do DPPH; độc tính được khảo sát trên chuột cống trắng dòng Wistar với liều uống 1,2 và 3,6 g/kg/ngày trong 28 ngày. Kết quả: CCMM ức chế gốc tự do DPPH theo cơ chế phụ thuộc nồng độ, với IC₅₀ đạt 47,95 µg/mL. Trong thử nghiệm độc tính, không ghi nhận tử vong hoặc biểu hiện bất thường về lâm sàng; trọng lượng cơ thể tăng ổn định. Một số chỉ số huyết học và sinh hóa (Hb, Hct, albumin) biến động nhẹ so với giá trị nền, nhưng không khác biệt có ý nghĩa so với lô chứng tại cùng thời điểm. Hình ảnh mô bệnh học gan và thận không phát hiện tổn thương liên quan đến mẫu thử. Kết luận: CCMM có hoạt tính chống oxy hóa đáng kể và dung nạp tốt trên mô hình thực nghiệm 28 ngày, cung cấp cơ sở khoa học để ứng dụng trong định hướng trị liệu dài hạn. Trần Thị Hồng Ngọc, Phan Hồng Minh, Võ Nguyễn Thùy Dung, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Thúc Thu Hương, Mai Phương Thanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1946 ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN CỦA BÀI THUỐC TIÊU PHONG THANG TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2008 Mục tiêu: Xác định ngưỡng an toàn cấp tính và đánh giá độc tính bán trường diễn của bài thuốc Tiêu phong thang (TPT) thông qua ảnh hưởng đến thể trạng, chỉ số huyết học, sinh hóa, mô bệnh học gan, thận trên động vật thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Độc tính cấp được khảo sát trên chuột nhắt Swiss để xác định LD50.30 chuột cống trắng Wistar được chia thành 3 lô (n = 10): Lô chứng (uống nước cất), lô trị 1 (uống TPT liều 17,05 g/kg/ngày) và lô trị 2 (uống TPT liều 51,15 g/kg/ngày). Các chỉ số được đánh giá tại thời điểm D0, D14, D28. Mô bệnh học gan, thận được đánh giá vào ngày thứ 28. Kết quả: Không xác định được LD50 của TPT trên chuột nhắt ở liều uống tối đa (375 g/kg). Ở nghiên cứu độc tính bán trường diễn, bài thuốc không làm thay đổi các biểu hiện lâm sàng và sự tăng trưởng thể trọng (p > 0,05). Các chỉ số huyết học (hồng cầu (RBC), huyết sắc tố (HGB), hematocrit (HCT), bạch cầu (WBC), tiểu cầu (PLT)) và sinh hóa máu (men gan AST, ALT; chức năng thận (creatinine, albumin), chuyển hóa lipid cholesterol toàn phần (TP)) của các lô trị không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (p > 0,05). Không ghi nhận tổn thương đại thể và vi thể gan, thận. Kết luận: Bài thuốc TPT dạng cao lỏng không thể hiện độc tính cấp và đạt độ an toàn bán trường diễn ở các mức liều khảo sát. Nguyễn Khánh Linh, Lê Hồng Phú, Nguyễn Thanh Hà Tuấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2008 XÁC ĐỊNH BIỂU HIỆN GENE SFRP5 Ở CHUỘT THỪA CÂN BÉO PHÌ THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1893 Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của chế độ ăn lên biểu hiện gene SFRP5 (secreted frizzled-related protein 5), cũng như kiểm tra sự thay đổi biểu hiện này theo thời gian ăn và vị trí mô mỡ ở chuột. Phương pháp nghiên cứu: Xác định biểu hiện gene SFRP5 của 50 chuột được chia thành bốn nhóm, sử dụng hai loại: Chế độ ăn tiêu chuẩn (a standard diet - STD) và chế độ ăn giàu chất béo (high-fat diet - HFD) trong 60 và 100 ngày bằng phương pháp RT-qPCR sau khi tách mRNA tổng số từ mô mỡ chuột ở ba vị trí (gáy, đùi và mào tinh). Kết quả: HFD làm tăng biểu hiện gene SFRP5 ở cả ba loại mô mỡ của chuột, đồng thời HFD 100 ngày cũng làm tăng biểu hiện gene mô mỡ trắng ở đùi so với HFD 60 ngày. Chúng tôi cũng phát hiện biểu hiện gene SFRP5 mô mỡ mào tinh luôn cao hơn nhiều lần mô mỡ gáy và mô mỡ đùi, gợi ý mô mỡ mào tinh là lựa chọn phù hợp để nghiên cứu biểu hiện gen SFRP5 trên chuột. Kết luận: SFRP5 là marker quan trọng trong dự đoán sớm sự phì đại mô mỡ và có thể được sử dụng để theo dõi kết quả điều trị béo phì. Vũ Trí Quang, Đặng Tiến Trường, Nguyễn Duy Bắc, Vũ Thùy Dương, Mai Thị Kim Anh, Chu Đình Tới Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1893 KẾT QUẢ THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM Ở PHỤ NỮ TỪ 35 TUỔI TRỞ LÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THANH HÓA https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1990 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro fertilization - IVF)và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng ở phụ nữ ≥35 tuổi.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 103 phụ nữ ≥ 35 tuổi, thực hiện IVF và được chuyển phôi trong giai đoạn 2019 - 2020. Các biến số thu nhận gồm đặc điểm nền của bệnh nhân (BN), đặc điểm phát triển phôi, tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ thai lâm sàng. Đánh giá mối liên quan giữa tuổi mẹ, số phôi chuyển và độ dày niêm mạc tử cung với tỷ lệ thai lâm sàng. Kết quả:Số noãn thu được trung bình là 6,4 ± 4,3, với tỷ lệ thụ tinh đạt 84,3%. Số phôi trung bình là 4,8 ± 2,58. Tỷ lệ làm tổ và thai lâm sàng lần lượt là 20,8% và 30,1%.Tỷ lệ thai lâm sàng ở nhóm 35 - 39 tuổi (34,6%) cao hơn nhóm ≥ 40 tuổi (16%). Chuyển ≥ 2 phôi làm tăng đáng kể khả năng có thai 3,3 lần so với chuyển 1 phôi. Độ dày niêm mạc tử cung > 11mm có mối tương quan thuận với kết quả thai lâm sàng.Kết luận: Tuổi mẹ, số phôi chuyển và độ dày niêm mạc tử cung là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả IVF. Hiệu quả điều trị giảm rõ rệt ở phụ nữ sau 40 tuổi. Hồ Sỹ Hùng, Đỗ Quang Mai, Hoàng Quốc Huy, Trịnh Lê Thủy Nhi, Hoàng Văn Lợi Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1990 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ Y TẾ VÀ VẬT TƯ Y TẾ TIÊU HAO CỦA BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN CẤP 2 SỐ 7 TẠI NAM SUDAN: GIAI ĐOẠN 2024 - 2025 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1838 Mục tiêu: Mô tả thực trạng quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế (TTBYT) và vật tư y tế tiêu hao (VTYTTH) tại Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 7 (BVDC2.7) tại Nam Sudan giai đoạn 2024 - 2025. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứuhồi cứu trên 89 TTBYT và 1.664 loại VTYTTH của BVDC2.7 tại Nam Sudan từ ngày 01/12/2024 - 30/12/2025. Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận 89 TTBYT lâu bền (TTBYTLB), trong đó, 89,89% có thời gian sử dụng < 5 năm, tập trung chủ yếu tại Khoa Ngoại và Phòng khám. Công tác quản lý, bảo quản và bảo dưỡng TTBYT đạt tỷ lệ cao (80,9 - 98,88%), với 96,63% thiết bị đang hoạt động tốt. VTYTTH thông thường chiếm tỷ trọng chủ yếu trong xuất - nhập - tồn. Tỷ lệ cận hạn thấp (1,42%), nhưng tỷ lệ tiêu hủy còn ở mức 7,99%. Kết luận: Công tác quản lý TTBYTLB tại BVDC2.7 đáp ứng tốt các tiêu chí theo checklist COE (bảng kiểm Contingent-Owned Equipment) của Liên Hợp Quốc (LHQ), với 96,63% thiết bị hoạt động tốt và tỷ lệ tiêu chí “Đạt” ở mức cao. Quản lý VTYTTH tương đối hiệu quả với tỷ lệ cận hạn thấp (1,42%), tuy nhiên, tỷ lệ tiêu hủy cao (7,99%) cho thấy nguy cơ lãng phí, cần tối ưu hóa công tác bảo quản và mua sắm để nâng cao hiệu quả sử dụng. Vũ Văn Pha, Nguyễn Thị Thu Thảo, Phan Thanh Trường, Trần Thuận Trang, Trần Đức Tài Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1838 MỐI LIÊN QUAN GIỮA PHÁT TRIỂN THẦN KINH GIAI ĐOẠN 3 TUỔI VỚI NĂNG LỰC HỌC TẬP GIAI ĐOẠN 8 TUỔI Ở NHÓM TRẺ SINH SỐNG XUNG QUANH KHU VỰC Ô NHIỄM DIOXIN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2083 Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa các chỉ số phát triển thần kinh giai đoạn 3 tuổi với năng lực học tập tại thời điểm 8 tuổi ở nhóm trẻ sinh sống quanh khu vực ô nhiễm dioxin. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập, theo dõi dọc trên 166 cặp bà mẹ - trẻ em sinh sống xung quanh sân bay Đà Nẵng từ tháng 7/2008 - 7/2017. Nhóm trẻ được theo dõi từ khi sinh ra và được đánh giá chỉ số phát triển thần kinh tại thời điểm 3 tuổi bao gồm nhận thức, ngôn ngữ tiếp nhận, ngôn ngữ biểu đạt, vận động tinh tế và vận động toàn thân bằng bộ công cụ Bayley-III và những khó khăn trong học tập (bằng bộ câu hỏi CLDQ), kết hợp điểm số bài đánh giá năng lực toán học và ngôn ngữ (tiếng Việt) tại thời điểm 8 tuổi. Phân tích hồi quy đa biến được tiến hành để đánh giá mối liên quan giữa các chỉ số phát triển thần kinh thời điểm trẻ 3 tuổi với năng lực học tập giai đoạn 8 tuổi. Kết quả: Ở trẻ trai, các chỉ số phát triển thần kinh thời điểm 3 tuổi liên quan có ý nghĩa thống kê với những khó khăn trong học ngôn ngữ và điểm số của môn toán và tiếng Việt tại thời điểm trẻ 8 tuổi. Ở trẻ gái, mặc dù không có mối liên quan với những khó khăn trong học tập, nhưng có mối liên quan ý nghĩa thống kê với điểm toán và điểm tiếng Việt. Kết luận: Sự phát triển thần kinh của trẻ ở giai đoạn 3 tuổi liên quan mật thiết với năng lực trí tuệ và học tập trong giai đoạn 8 tuổi, đặc biệt ở nhóm trẻ trai. Phạm Thế Tài, Nishijo Muneko Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2083 THỰC TRẠNG VIÊM LỢI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ 3 - 5 TUỔI TẠI XÃ LAO CHẢI, TUYÊN QUANG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2030 Mục tiêu: Xác định thực trạng viêm lợi, mức độ trưởng thành của mảng bám răng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 3 - 5 tuổi tại xã Lao Chải, Tuyên Quang năm 2026. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 255 trẻ (124 trẻ trai, 131 trẻ gái) được thăm khám lâm sàng và điều tra bằng phiếu câu hỏi tại Trường Mầm non, xã Lao Chải, Tuyên Quang từ tháng 12/2025 - 02/2026. Thăm khám lâm sàng sử dụng chỉ số lợi (GI) và đồng thời đo cường độ huỳnh quang đỏ (ΔR) bằng thiết bị huỳnh quang cảm ứng ánh sáng định lượng (QLF), thu thập thông tin về thói quen chăm sóc răng miệng của trẻ thông qua phỏng vấn người giám hộ. Kết quả: Viêm lợi chủ yếu ở mức độ nhẹ và trung bình (độ 1: 37,65%; độ 2: 57,65%) không có sự khác biệt theo giới (p > 0,05). Giá trị ΔR ở nam giới cao hơn nữ (58,67 ± 6,31% so với 50,23 ± 5,89%; p < 0,0001) và ở hàm dưới cao hơn so với hàm trên (60,32 ± 6,12% so với 48,34 ± 5,91%; p < 0,0001). Phân bố ΔR chủ yếu trong khoảng 50 - 70% phản ánh mảng bám ở mức trưởng thành trung bình - cao. Tỷ lệ trẻ không chải răng hoặc chải răng không thường xuyên và không khám nha khoa định kỳ chiếm đa số. Kết luận: Viêm lợi và mảng bám răng ở trẻ mầm non tại khu vực nghiên cứu đang ở mức báo động. Tình trạng này liên quan chặt chẽ đến thói quen vệ sinh răng miệng và điều kiện tiếp cận dịch vụ nha khoa. Cần thúc đẩy các chương trình chăm sóc răng miệng cộng đồng tại vùng sâu, vùng xa, đặc biệt ở đối tượng trẻ em. Trương Đình Khởi, Nguyễn Ngọc Linh Chi Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2030 DIỄN BIẾN NỒNG ĐỘ HORMONE SINH SẢN THEO TUỔI Ở NAM GIỚI HIẾM MUỘN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1882 Mục tiêu:Đánh giá sự thay đổi nồng độ hormone sinh sản theo tuổi ở nam giới đến khám vô sinh hiếm muộn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 410 nam giới trong độ tuổi sinh sản, được chia thành 3 nhóm: 200 người có tinh dịch đồ bình thường, 170 người thiểu tinh nặng và 40 người vô tinh. Kết quả: Ở nhóm tinh dịch đồ bình thường, tuổi có tương quan thuận, mức độ yếu, với nồng độ FSH (follicle-stimulating hormone) (r = 0,2689; p = 0,0001) và tương quan thuận, rất yếu, với LH (luteinizing hormone) (r= 0,1594; p= 0,0242). Ở nhóm thiểu tinh nặng, nồng độ FSH và LH có xu hướng tăng có ý nghĩa thống kê theo tuổi, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở nhóm vô tinh. Nồng độ testosterone không có mối tương quan có ý nghĩa với tuổi ở cả ba nhóm. Kết luận:Ở nhóm tinh dịch đồ bình thường và thiểu tinh nặng, nồng độ FSH và LH có xu hướng tăng theo tuổi, trong khi ở nhóm vô tinh, sự thay đổi theo tuổi không đáng kể. Nồng độ testosterone không thay đổi theo tuổi ở cả ba nhóm. Trịnh Thế Sơn, Nguyễn Thuỳ Dương, Trịnh An Thiên, Phạm Đức Minh, Phạm Văn Quyết, Trịnh Quốc Thành Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1882 ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA HAI PHƯƠNG PHÁP ĐO KÍCH THƯỚC CUNG RĂNG TRÊN MẪU HÀM SỐ HÓA VÀ MẪU HÀM IN 3D https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1958 Mục tiêu: Đánh giá độ tin cậy và mức độ tương đồng giữa hai phương pháp đo kích thước cung răng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 40 mẫu hàm số hóa và 40 mẫu hàm in 3D (được in từ tháng 3/2025 - 01/2026) từ cùng một nguồn dữ liệu quét trong miệng. Thực hiện phép đo trên mẫu hàm số hóa bằng phần mềm Medit Ortho Simulation và phép đo trên mẫu hàm in 3D bằng thước kẹp điện tử Mitutoyo. Các kích thước đo gồm: Chiều rộng liên nanh, chiều rộng liên cối, chiều dài cung răng trước và chiều dài cung răng sau. Kết quả: Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các kích thước trên hai loại mẫu hàm (p > 0,05), trừ chiều dài cung răng trước hàm dưới. Có mối tương quan tuyến tính rất mạnh giữa hai phép đo (r > 0,977; p < 0,001). ICC(2,1) > 0,9 (p < 0,001) cho thấy sự tương đồng và độ tin cậy cao giữa hai phương pháp đo. Phân tích Bland-Altman cho thấy sai số hệ thống rất nhỏ (từ 0,02 - 0,19mm) và giới hạn đồng thuận (limits of agreement - LoA) trong khoảng từ -0,91 đến +1,28mm với khoảng tin cậy 95%. Kết luận: Phương pháp đo kích thước cung răng bằng phần mềm trên mẫu hàm số hóa và bằng thước kẹp điện tử trên mẫu hàm in 3D đạt độ tin cậy và độ tương đồng cao. Sau 9 tháng lưu trữ, cả hai loại mẫu hàm được tạo từ cùng dữ liệu quét có thể thay thế cho nhau. Trương Hoàng Lệ Thủy, Võ Trương Như Ngọc Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1958 NGHIÊN CỨU ĐA HÌNH RS1800566 GENE NQO1 VÀ BIỂU HIỆN GENE ASCL1 Ở BỆNH NHÂN NHIỄM ĐỘC TRINITROTOLUEN NGHỀ NGHIỆP https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1968 Mục tiêu:Khảo sát đa hình rs1800566 gene NQO1 (NAD(P)H quinone dehydrogenase 1)và đánh giá mức độ biểu hiện gene ASCL1 ở bệnh nhân (BN) nhiễm độc trinitrotoluen (TNT) nghề nghiệp. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu bệnh - chứng và mô tả trên 200 công nhân tiếp xúc với TNT nghề nghiệp, gồm 100 BN nhiễm độc TNT và 100 đối chứng không nhiễm độc trong thời gian từ tháng 12/2023 - 12/2025. Đa hình rs1800566 gene NQO1 được xác định bằng kỹ thuật PCR-RFLP; biểu hiện gene ASCL1 được định lượng tương đối bằng qRT-PCR. Kết quả:Tần suất kiểu gene AA/AG/GG ở nhóm bệnh lần lượt là 15%, 46% và 39% so với 25%, 53% và 22% ở nhóm chứng. Tần suất alen A/G ở nhóm bệnh là 76/124 và ở nhóm chứng là 103/97. Kiểu gene GG gặp nhiều hơn ở nhóm bệnh (p < 0,05), liên quan với nguy cơ nhiễm độc TNT cao hơn so với kiểu gene AA (OR = 2,95; p < 0,01), và alen G liên quan với nguy cơ nhiễm độc TNT cao hơn so với alen A (OR = 1,73; p < 0,01). Mức độ biểu hiện gene ASCL1 ở nhóm bệnh thấp hơn so với nhóm chứng, với trung vị lần lượt là 0,44 và 0,93 (p < 0,001). Kết luận: Đa hình rs1800566 gene NQO1, đặc biệt kiểu gene GG và alen G, có liên quan với nguy cơ nhiễm độc TNT nghề nghiệp. Biểu hiện gene ASCL1 giảm rõ rệt ở BN nhiễm độc TNT so với nhóm chứng. Nguyễn Hoàng Hiệp, Nguyễn Văn Bằng, Triệu Tiến Sang, Trần Văn Khoa, Nguyễn Văn Phong Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1968 GIÁ TRỊ CỦA CÁC CHẤT CHỈ ĐIỂM SINH HỌC VIÊM TRONG DỰ BÁO TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC TỬ VONG Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1986 Mục tiêu: Xác định giá trị tiên lượng kết cục tử vong 30 ngày của các chất chỉ điểm sinh học viêm ở bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp được điều trị bảo tồn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 130 BN nhồi máu não cấp tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ từ tháng 5/2024 - 02/2026. Các chất chỉ điểm sinh học viêm gồm tỷ lệ bạch cầu trung tính/lympho (neutrophil-to-lymphocyte ratio - NLR), CRP (C-reactive protein) và IL-6 (interleukin-6). Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 64,90 ± 10,95, nam chiếm 61,5%, nhóm đột quỵ nặng (NIHSS ≥ 15 điểm) chiếm 27,7%. Tỷ lệ tử vong 30 ngày là 24,6%. BN nhồi máu não cấp tử vong trong vòng 30 ngày có trung vị NLR cao hơn đáng kể là 5,40 (IQR: 3,77 - 7,14) so với BN còn sống là 3,75 (IQR: 2,59 - 4,72), với p < 0,05. Tương tự, nhóm tử vong có trung vị CRP là 9,04 mg/L (IQR: 5,09 - 10,96) và trung vị IL-6 là 13,15 pg/mL (IQR: 11,42 - 15,05) đều cao hơn đáng kể so với nhóm còn sống (p < 0,05). Phân tích ROC cho thấy NLR có giá trị dự đoán cao nhất với AUC là 0,730 (95%CI: 0,627 - 0,832). Giá trị ngưỡng tối ưu với NLR là 5,27, tạo ra độ nhạy là 56,3% và độ đặc hiệu là 85,7% trong dự báo tử vong. Kết luận: Các chất chỉ điểm sinh học viêm hệ thống bao gồm NLR, CRP và IL-6 đã chứng minh giá trị tiềm năng trong tiên lượng tử vong 30 ngày ở BN nhồi máu não cấp được điều trị bảo tồn. Phạm Kiều Anh Thơ, Nguyễn Văn Phong Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1986 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG XÉT NGHIỆM HOÁ MIỄN DỊCH TÌM MÁU ẨN TRONG PHÂN PHÁT HIỆN SỚM TỔN THƯƠNG ỐNG TIÊU HOÁ Ở NGƯỜI TỪ 40 TUỔI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2097 Mục tiêu: Đánh giá một số nguyên nhân của máu ẩn trong phân dương tính (+) ở người dân tại 5 tỉnh miền Bắc Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 296 bệnh nhân (BN) có kết quả xét nghiệm hóa miễn dịch tìm máu ẩn trong phân (fecal immunochemical test - FIT) (+) và được nội soi tiêu hóa tại 5 tỉnh (Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa) từ tháng 5/2021 - 12/2023. Kết quả:Trong số BN nghiên cứu, có 8 BN (2,7%) có tổn thương loét dạ dày - hành tá tràng (DD - HTT), còn lại 97,3% viêm DD - HTT. Sự khác biệt được ghi nhận trong phát hiện tổn thương giữa hai giới (p < 0,001), có 127 BN (42,9%) phát hiện có polyp đại trực tràng (ĐTT) và 1 BN (0,3%) được chẩn đoán viêm đại tràng (ĐT). Kết quả mô bệnh học cho thấy 15 BN được chẩn đoán ung thư (UT)/tiền UT ĐTT. Tỷ lệ phát hiện UT ĐTT ở nhóm có FIT (+) được nội soi tiêu hóa là 5,1%. Kết luận:Ở các đối tượng có xét nghiệm FIT (+), phát hiện có polyp ĐTT là 42,9% và UT/tiền UT là 5,1%. Như vậy, kết hợp FIT với nội soi tiêu hóa có hiệu quả trong phát hiện sớm các tổn thương ĐTT trong cộng đồng. Vũ Ngọc Hoàn, Phạm Quang Phú, Phạm Thế Tài, Nghiêm Đức Thuận Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2097 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG THEO AJCC PHIÊN BẢN THỨ 9 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2051 Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi giai đoạn khi sử dụng phân loại TNM phiên bản thứ 9 thay cho TNM phiên bản 8. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 141 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán ung thư vòm mũi họng (UTVMH) và điều trị tại Khoa Xạ Đầu - Cổ, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 7/2025 - 9/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của BN nghiên cứu là 40,7 ± 12,6. Tỷ lệ nam/nữ là 2,36/1. Về mô bệnh học, ung thư biểu mô (UTBM) vảy không sừng hóa, dưới type không biệt hóa, chiếm đa số (97,9%). Đánh giá theo TNM phiên bản thứ 8, tỷ lệ T1, T2, T3 và T4 lần lượt là 33,3%, 27,0%, 19,1% và 20,6%; tỷ lệ N0, N1, N2, N3 lần lượt là 10,6%, 38,3%, 34,8% và 16,3%; giai đoạn III - IV chiếm đa số (74,5%). Khi đánh giá theo TNM phiên bản thứ 9, giai đoạn T không có sự thay đổi, có 6 BN thay đổi giai đoạn N (4,3%) và 92,9% thay đổi giai đoạn chung. Kết luận: Hệ thống phân loại TNM phiên bản thứ 9 đã được công bố với nhiều thay đổi so với phiên bản thứ 8 về giá trị tiên lượng và phân loại BN. Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Huy Phan Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2051 ĐẶC ĐIỂM CHỈ SỐ TƯƠNG HỢP THẤT PHẢI - ĐỘNG MẠCH PHỔI BẰNG SIÊU ÂM TIM Ở BỆNH NHÂN HẸP VAN HAI LÁ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1944 Mục tiêu: Nghiên cứu chỉ số tương hợp thất phải - động mạch phổi (right ventricular-pulmonary arterial coupling - RVPAC) ở bệnh nhân (BN) hẹp van hai lá (VHL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu,mô tả, có đối chứng trên 2 nhóm gồm 58 BN được chẩn đoán hẹp VHL và 42 đối tượng không có bệnh lý tim mạch (nhóm chứng) tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2022 - 12/2025. Kết quả:RVPACở nhóm hẹp VHL (0,44 ± 0,20 mm/mmHg) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (0,56 ± 0,19 mm/mmHg); p < 0,01. RVPAC ở nhóm rung nhĩ thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm nhịp xoang (0,41 ± 0,14 so với 0,55 ± 0,29 mm/mmHg; p < 0,05). RVPAC có liên quan đến mức độ hở van ba lá (VBL) thứ phát. RVPAC ở nhóm hở VBL mức độ vừa và nhiều thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm hở VBL nhẹ (0,39 ± 0,17 và 0,55 ± 0,21 mm/mmHg, p < 0,01). Chưa nhận thấy mối liên quan giữa RVPAC và mức độ suy tim (p > 0,05). Kết luận:RVPAC ở nhóm hẹp VHL thấp hơn so với nhóm chứng. RVPAC có mối liên quan với rung nhĩ và hở VBL thứ phát. Nhóm rung nhĩ có RVPAC thấp hơn so với nhóm nhịp xoang. Hở VBL càng nặng thì RVPAC càng giảm. Vũ Đức Thắng, Nguyễn Thế Kiên, Phạm Vũ Thu Hà Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1944 STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRẺ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý CÓ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1982 Mục tiêu: Khảo sát mức độ stress, lo âu, trầm cảm của người chăm sóc (NCS) chính của trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý (attention-deficit/hyperactivity disorder - ADHD) có rối loạn giấc ngủ (RLGN); phân tích mối tương quan giữa mức độ RLGN của trẻ và mức độ stress, lo âu và trầm cảm của NCS chính. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 264 NCS chính của trẻ ADHD có RLGN được điều trị tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 10/2022 - 9/2023. RLGN của trẻ được đánh giá bằng CSHQ-V (Vietnamese version of Children’s Sleep Habits Questionnaire); stress, lo âu và trầm cảm của NCS chính được đánh giá bằng DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scale-21). Kết quả: Tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm của NCS chính lần lượt là 73,5%, 67,4% và 52,3%. Điểm CSHQ-V của trẻ có tương quan thuận với điểm stress (r = 0,693), lo âu (r = 0,764) và trầm cảm (r = 0,646) của NCS chính (p < 0,01). Kết luận: Tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm ở NCS chính trẻ ADHD có RLGN tương đối cao và có tương quan chặt chẽ với mức độ RLGN ở trẻ ADHD. Hoàng Đắc Thăng, Đỗ Ngọc Hợp, Thành Ngọc Minh, Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Thị Phương Mai Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1982 MỐI LIÊN QUAN GIỮA BIẾN THỂ GENE 5HTR2A T102C VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TRẦM CẢM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1980 Mục tiêu:Xác định mối liên quan giữa biến thể gene 5HTR2A T102Cvới một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân (BN) rối loạn trầm cảm (RLTC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 110 BN được chẩn đoán xác định RLTC, điều trị tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2024 - 12/2025. Kết quả: Biến thể gene 5HTR2A T102C có mối liên quan với số lần tái phát bệnh, số lần phải điều trị nội trú và triệu chứng có cơn hoảng sợ. Trong đó, kiểu gene CC có nguy cơ tái phát bệnh, phải điều trị nội trú và triệu chứng có cơn hoảng sợ cao hơn đáng kể so với kiểu gene mang alen T (TT/TC). Kiểu gene mang alen C (CC/TC) có tỷ lệ xuất hiện triệu chứng dễ bị kích thích cao hơn đáng kể so với kiểu gene TT. Kết luận: Kiểu gene CC 5HTR2A T102C có mối liên quan với số lần tái phát bệnh, số lần phải điều trị nội trú và triệu chứng có cơn hoảng sợ, trong khi kiểu gene CC hoặc TC 5HTR2A T102C có mối liên quan với triệu chứng dễ bị kích thích. Đỗ Xuân Tĩnh, Nguyễn Tất Định Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1980 GIÁ TRỊ CỦA KHOẢNG CÁCH GLUCOSE MÁU TRONG TIÊN LƯỢNG SUY GIẢM THẦN KINH SỚM Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ CHẢY MÁU NÃO CẤP https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1950 Mục tiêu:Xác định giá trị của khoảng cách glucose máu (glycemic gap - GG) trong tiên lượng suy giảm thần kinh sớm (early neurological deterioration - END) ở bệnh nhân (BN) đột quỵ chảy máu não cấp (ĐQCMNC). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 302 BN ĐQCMNC điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 12/2024 - 10/2025. END được định nghĩa là tăng ≥ 4 điểm NIHSS và/hoặc giảm ≥ 2 điểm Glasgow trong vòng 48 giờ đầu sau khi vào viện. GG được tính bằng nồng độ glucose máu lúc vào viện trừ đi glucose máu trung bình ước tính. Phân tích thống kê sử dụng hồi quy logistic và đường cong ROC. Kết quả:Tỷ lệ END là 40,4%. Giá trị GG trung vị ở nhóm END cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không suy giảm thần kinh sớm (non-END) (1,8 so với -0,3; p < 0,001). Ngưỡng cắt tối ưu của GG để dự đoán END là 1,4 (AUC = 0,73; độ nhạy: 55,7%; độ đặc hiệu: 82,8%). Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy BN có GG ≥ 1,4 có nguy cơ END cao gấp 2,9 lần (95%CI: 1,5 - 5,8; p = 0,002). Kết luận: GG lúc vào viện bước đầucho thấy là yếu tố liên quan có giá trị tiên lượng đối với END ở BN ĐQCMNC và có thể hỗ trợ phân tầng nguy cơ END trong thực hành lâm sàng. Đặng Phúc Đức, Ngô Tiến Quyền, Huỳnh Quang Thuận, Nguyễn Đăng Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1950 MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ CHẢY MÁU NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 GIAI ĐOẠN 2024 - 2025 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1924 Mục tiêu:Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định các yếu tố tiên lượng suy giảm chức năng thần kinh sớm (early neurological deterioration - END) ở bệnh nhân (BN) đột quỵ chảy máu não cấp (ĐQCMNC). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 302 BN ĐQCMNC điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 2024 - 2025. Kết quả:Tỷ lệ END là 40,4%. Các yếu tố tiên lượng độc lập cho END gồm Thang điểm Đột quỵ của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health Stroke Scale - NIHSS) > 15, thang điểm đột quỵ chảy máu não (intracerebral hemorrhage score - ICH score)từ 2 - 6, đè đẩy đường giữa ≥ 5mm và chỉ số tăng glucose máu do stress (stress hyperglycemia ratio - SHR) ≥ 1,06. Chỉ số bạch cầu đa nhân trung tính/bạch cầu lympho máu ngoại vi (NLR) ≥ 8,33 có liên quan có ý nghĩa với END. Kết luận:END gặp ở 40,4% BN; NIHSS cao, ICH score (2 - 6), đè đẩy đường giữa và SHR là các yếu tố tiên lượng độc lập của END. Ngô Tiến Quyền, Đặng Phúc Đức, Huỳnh Quang Thuận Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1924 ĐẶC ĐIỂM CHỈ SỐ BỆNH ĐI KÈM CHARLSON VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU CHU KỲ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2052 Mục tiêu:Đánh giá đặc điểm chỉ số bệnh đi kèm Charlson (Charlson comorbidity index - CCI) và xác định các yếu tố liên quan ở người bệnh (NB) lọc máu chu kỳ (LMCK). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 114 NB LMCK tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2025 - 5/2026. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp. Phân tích mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và đánh giá CCI theo thang điểm Charlson Việt hóa. Kết quả:Tuổi trung bình là 58,99 ± 14,07; nam giới chiếm 52,6%. Thời gian lọc máu trung bình là 67,38 ± 55,99 tháng. Điểm CCI trung bình là 3,74 ± 1,52; phần lớn NB có điểm CCI ≤ 4 (72,8%), chỉ có 4,4% NB có CCI ≥ 7, phản ánh gánh nặng bệnh đồng mắc mức độ nhẹ - trung bình. Các bệnh đồng mắc phổ biến nhất là suy tim, bệnh gan mạn tính và đái tháo đường (ĐTĐ). Điểm CCI tăng theo tuổi và liên quan có ý nghĩa với albumin và huyết sắc tố (HST), cho thấy mức độ đồng mắc có thể phản ánh tình trạng dinh dưỡng. Kết luận:NB LMCK chủ yếu có gánh nặng bệnh đồng mắc mức độ nhẹ - trung bình. Điểm CCI tăng theo tuổi và liên quan chặt chẽ với các chỉ số dinh dưỡng, đặc biệt là albumin và HST. CCI là công cụ góp phần đánh giá nguy cơ và phân tầng NB LMCK. Lê Cẩm Linh, Nguyễn Thị Thu Hà, Hoàng Trung Vinh, Phạm Quốc Toản Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2052 VAI TRÒ CỦA BẤT ĐỐI XỨNG NĂNG LƯỢNG SÓNG TUYỆT ĐỐI GIỮA HAI BÁN CẦU NÃO TRONG PHÁT HIỆN TRẦM CẢM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2017 Mục tiêu: Nhận xét vai trò của bất đối xứng năng lượng sóng (NLS) tuyệt đối giữa hai bán cầu não trong phát hiện trầm cảm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 90 bệnh nhân (BN) rối loạn trầm cảm và 90 người khỏe mạnh làm nhóm chứng. Cả hai nhóm đều tương đương về tuổi (cùng 18 - 60 tuổi) và giới tính. Ghi điện não đơn cực 20 phút ở 12 vị trí trên da đầu. Phân tích điện não bằng hộp công cụ EEGLAB trên phần mềm Matlab R2022b. Kết quả: Bất đối xứng NLS alpha toàn bán cầu (bán cầu trái cao hơn bán cầu phải), sóng beta vùng trung tâm và sóng theta vùng đỉnh bán cầu trái cao hơn bán cầu phải (p < 0,05). Sự gia tăng năng lượng này có mối liên quan độc lập với nguy cơ mắc trầm cảm; cụ thể, sóng alpha (OR = 2,71; 95%CI: 1,05 - 3,96), sóng beta (OR = 5,50; 95%CI: 1,85 - 16,31) và sóng theta (OR = 3,77; 95%CI: 1,40 - 10,16). Kết luận:NLS tuyệt đối ở bán cầu trái cao hơn bán cầu phải đối với sóng alpha toàn bán cầu, sóng beta vùng trung tâm và sóng theta vùng đỉnh có thể là chỉ dấu sinh học tiềm năng trong phát hiện và chẩn đoán bệnh trầm cảm. Trần Lê Nguyệt Minh, Đỗ Xuân Tĩnh, Lê Văn Quân Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2017 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT CỤC THAI KỲ Ở THAI PHỤ MANG THAI CON SO KÈM ĐA ỐI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VĨNH LONG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1985 Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ ở thai phụ (TP) mang thai con so kèm đa ối. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 96 TP mang thai con so kèm đa ối tại Khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long từ tháng 3/2023 - 7/2024. Kết quả: Tỷ lệ TP ≥ 35 tuổi là 29,2%. TP mắc đa ối mức độ nhẹ là 66,7%; trung bình là 25,0% và nặng là 8,3%. Nghiên cứu ghi nhận đa số TP không có triệu chứng lâm sàng (66,7%). TP mắc đa ối mức độ trung bình - nặng có tỷ lệ mổ lấy thai (81,2% so với 43,7%), tỷ lệ vỡ ối non (31,3% so với 12,5%), vỡ ối sớm (56,3% so với 15,6%), sinh non (25,0% so với 3,1%) cao hơn so với nhóm TP mắc đa ối nhẹ (p < 0,05). Kết luận: TP mang thai con so kèm đa ối phần lớn là nhẹ và không có triệu chứng. TP mắc đa ối mức độ trung bình - nặng có tỷ lệ mổ lấy thai cao hơn và kết cục thai kỳ xấu hơn. Hồ Thị Thu Hằng, Nguyễn Lư Hoàng Phong Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1985 GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA CHỈ SỐ BẠCH CẦU ÁI TOAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH CÓ POLYP MŨI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2031 Mục tiêu: Xác định giá trị chẩn đoán của chỉ số bạch cầu ái toan (BCAT) trong viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) có polyp mũi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 84 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định VMXMT có polyp mũi, điều trị tại Bộ môn - Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2022 - 5/2025. Kết quả: Chỉ số BCAT mô polyp có giá trị tốt trong phân loại mức độ viêm ở BN VMXMT có polyp mũi (AUC > 0,8; p < 0,001), với ngưỡng cắt tối ưu là 67,5 BCAT/vi trường (độ nhạy 93,8%, độ đặc hiệu 86,5%). Nhóm tăng BCAT ưu thế mô polyp có điểm Lund-Kennedy trung bình là 9,12 ± 2,76 và điểm Lund-Mackay trung bình là 18,02 ± 3,67, cao hơn nhóm không tăng BCAT ưu thế mô polyp với điểm tương ứng là 7,46 ± 3,12 và 14,04 ± 4,65, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Ngược lại, tỷ lệ % BCAT máu ngoại vi có giá trị chẩn đoán kém và không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Ngưỡng 67,5 BCAT/vi trường có giá trị chẩn đoán tốt mức độ viêm, tương quan chặt chẽ với mức độ nặng trên nội soi và cắt lớp vi tính (CLVT) mũi xoang, cho thấy tiềm năng kết hợp với các yếu tố trong phân loại tiên lượng và điều trị VMXMT có polyp mũi. Quản Thành Nam, Đỗ Lan Hương, Nghiêm Đức Thuận, Nguyễn Phi Long, Đỗ Văn Tùng, Đỗ Thái Sơn, Ngô Đức Thắng, Ngô Thị Hương, Lưu Đắc Phong, Ngô Minh Quân, Nguyễn Thành Phẩm Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2031 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN CHOLESTEATOMA TAI GIỮA BẨM SINH VÀ MẮC PHẢI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1911 Mục tiêu: Mô tả và so sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) cholesteatoma tai giữa bẩm sinh (BS) và mắc phải (MP). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 121 BN được chẩn đoán và điều trị cholesteatoma tai giữa, gồm 80 BN cholesteatoma MP (nhóm MP) và 41 BN cholesteatoma BS (nhóm BS) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 02/2023 - 12/2024. Các triệu chứng lâm sàng, thính lực và hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) xương thái dương được phân tích và so sánh giữa hai nhóm. Kết quả: Nhóm BS chủ yếu gặp ở độ tuổi từ 3 - ≤ 7 tuổi, trong khi nhóm MP chủ yếu ≥ 13 tuổi. Nhóm BS biểu hiện lâm sàng kín đáo (nghe kém, ù tai, đau tai đều chiếm 9,76%), còn nhóm MP có triệu chứng rõ rệt hơn (nghe kém chiếm 92,5%, ù tai chiếm 78,75% và chảy mủ tai chiếm 72,5%), vớip < 0,01. Thính lực bình thường chiếm ưu thế ở nhóm BS (70,73%), trong khi 95,0% BN nhóm MP bị giảm thính lực, chủ yếu kiểu dẫn truyền; khoảng cách khí-xương (ABG) > 40dB gặp nhiều hơn ở nhóm MP (p < 0,01). Trên hình ảnh CLVT, cả hai nhóm có tổn thương chủ yếu tại thượng nhĩ (> 90%), khác biệt không có ý nghĩa. Tuy nhiên, tình trạng thông bào xương chũm có sự khác biệt: Nhóm BS chủ yếu là thông bào tốt (75,6%), còn nhóm MP chủ yếu là đặc ngà (81,3%), với p < 0,01. Kết luận: Hai nhóm cholesteatoma có sự khác biệt rõ rệt về biểu hiện lâm sàng, thính lực và tình trạng thông bào xương chũm trên hình ảnh CLVT. Điều này có giá trị trong chẩn đoán phân biệt và định hướng điều trị. Chử Thị Hồng Ninh, Nguyễn Minh Tâm, Đoàn Thi Hồng Hoa, Đặng Tiến Trường Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1911 KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TRÊN Ở BỆNH NHÂN CÓ THẬN ĐƠN ĐỘC BẰNG TÁN SỎI QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2006 Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị và sự thay đổi sớm về chức năng thận sau tán sỏi qua da đường hầm nhỏ (mini-percutaneous nephrolithotomy - mPCNL) ở bệnh nhân (BN) có thận đơn độc. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 41 BN có sỏi đường tiết niệu trên ở thận đơn độc được điều trị bằng mPCNL tại Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 từ tháng 01/2023 - 10/2025. Kết quả: Tuổi trung bình là 59,0 ± 8,8. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 87,8%. Phần lớn BN sử dụng một đường hầm (70,7%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 43 ± 20 phút, thời gian nằm viện sau mổ là 3,3 ± 2,5 ngày. Trong 24 giờ đầu sau mổ, mức lọc cầu thận (eGFR) giảm có ý nghĩa thống kê (từ 64 ± 18 xuống 57 ± 19 mL/phút/1,73m²; p < 0,05), trong khi nồng độ creatinine tăng nhẹ nhưng không có ý nghĩa thống kê. Sau 3 tuần, chức năng thận trở về mức tương đương trước mổ. Tỷ lệ biến chứng chung là 17,1%, chủ yếu là biến chứng nhẹ (Clavien-Dindođộ I - II chiếm 12,2%). Kết luận: mPCNL là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi đường tiết niệu trên ở BN có thận đơn độc. Mặc dù chức năng thận có thể giảm nhẹ sau mổ 24 giờ, nhưng có khả năng phục hồi sau 3 tuần. Kiều Đức Vinh, Nguyễn Việt Hải, Đỗ Tuấn Anh, Chử Lê Thanh Hùng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2006 MỐI LIÊN QUAN GIỮA PROTEIN VÀ ALBUMIN HUYẾT THANH TRƯỚC PHẪU THUẬT VỚI BIẾN CHỨNG SỚM SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI NGỰC CẮT THỰC QUẢN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1908 Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ albumin và protein huyết thanh trước phẫu thuật (PT) với biến chứng sớm sau phẫu thuật nội soi (PTNS) ngực cắt thực quản điều trị ung thư thực quản (UTTQ). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 108 bệnh nhân (BN) UTTQ được PTNS ngực cắt thực quản tại Bệnh viện Quân y 103 trong thời gian từ tháng 3/2019 - 12/2025. Kết quả:Nồng độ albumin huyết thanh trung bình trước PT là 40,5 ± 3,7 g/L và protein toàn phần là 73,4 ± 5,3 g/L. Tỷ lệ BN có biến chứng sớm sau PT là 24,1% (26/108 BN), trong đó, biến chứng hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (15,7%), tiếp theo là rò miệng nối (6,5%), rò dưỡng chấp (2,8%) và tử vong sau PT (1,9%). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ biến chứng sớm giữa các nhóm phân loại theo nồng độ albumin và protein trước PT (p > 0,05). Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, albumin và protein huyết thanh trước PT không phải là yếu tố tiên lượng độc lập đối với biến chứng sớm sau PT. Kết luận: Nồng độ albumin và protein huyết thanh trước PT không liên quan có ý nghĩa thống kê với biến chứng sớm sau PTNS ngực cắt thực quản điều trị UTTQ. Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Trọng Hòe, Nguyễn Anh Tuấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1908 ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU KẾT QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA TRUYỀN LIDOCAIN 0,5% LIÊN TỤC TẠI VẾT MỔ BẰNG CATHETER TRONG GIẢM ĐAU SAU MỔ GHÉP GAN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1972 Mục tiêu: Đánh giá kết quả giảm đau và tính an toàn của phương pháp truyền catheter liên tục tại vết mổ bằng lidocain 0,5% phối hợp giảm đau đa mô thức trong kiểm soát đau sau phẫu thuật ghép gan. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả trên 10 bệnh nhân (BN) được ghép gan tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 12/2025. Tất cả BN được đặt catheter đa lỗ truyền liên tục lidocain 0,5% tại vết mổ với tốc độ 4 - 6 mL/giờ, kết hợp paracetamol và nefopam sau mổ. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS (visual analog scale) khi nghỉ và vận động tại các thời điểm 6, 12, 24 và 48 giờ sau mổ; nhu cầu fentanyl giải cứu; mức độ hài lòng và các tác dụng không mong muốn. Kết quả: Điểm VAS trung bình khi nghỉ tại các thời điểm 6 giờ và 48 giờ lần lượt là 1,3 ± 0,8 và 0,8 ± 0,5. Điểm VAS khi vận động tại các thời điểm tương ứng là 3,2 ± 0,9; 2,2 ± 0,6. Chỉ 20,0% BN (2/10 BN) cần sử dụng fentanyl giải cứu. Một BN (10,0%) xuất hiện buồn nôn nhẹ và tự hết sau 12 giờ. Mức độ hài lòng của BN đạt 90,0% (9/10 trường hợp). Kết luận: Truyền catheter liên tục tại vết mổ bằng lidocain 0,5% kết hợp giảm đau đa mô thức là phương pháp giảm đau hiệu quả và an toàn cho BN sau ghép gan. Trần Hoài Nam, Trình Văn Đức, Quách Trung Nguyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1972 KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TÚI MẬT Ở BỆNH NHÂN VIÊM TÚI MẬT CẤP DO SỎI SAU DẪN LƯU TÚI MẬT XUYÊN GAN QUA DA https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1953 Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt túi mật ở bệnh nhân (BN) viêm túi mật cấp do sỏi đã được dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 64 BN được chẩn đoán viêm túi mật cấp do sỏi, được dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da dưới hướng dẫn của siêu âm và sau đó thực hiện PTNS cắt túi mật tại Khoa Gan - Mật - Tụy, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 02/2021 - 10/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 67,41 ± 15,12 (30 - 92), tỷ lệ BN nữ chiếm 64,1%. Thời gian trung bình từ khi dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da đến PTNS cắt túi mật là 32,4 ± 12,1 ngày (3 - 71 ngày). 100% BN được PTNS cắt túi mật hoàn toàn, không có trường hợp nào chuyển mổ mở. Trong mổ, tất cả các BN viêm túi mật cấp đều có mạc nối dính với túi mật, túi mật viêm mủ chiếm 76,6%, có dịch quanh túi mật chiếm 28,1%; thời gian mổ trung bình là 83,37 ± 20,6 phút. Biến chứng sau mổ gặp 2 trường hợp (3,1%). Đa số BN có kết quả phẫu thuật tốt (98,4%), thời gian nằm viện trung bình là 6,56 ± 2,46 ngày. Kết luận: PTNS cắt túi mật sau dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da là phương pháp an toàn và hiệu quả với tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp, thời gian nằm viện ngắn và kết quả điều trị khả quan. Trần Nguyễn Song Toàn, Đỗ Sơn Hải, Nguyễn Quang Nam, Nguyễn Thị Diệu Liên, Lại Bá Thành, Phạm Quang Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1953 GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG CỦA TỶ LỆ GLUCOSE/KALI HUYẾT THANH THỜI ĐIỂM NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1992 Mục tiêu: Tìm hiểu giá trị tiên lượng tử vong của tỷ lệ glucose/kali huyết thanh (HT) thời điểm nhập viện ở bệnh nhân (BN) chấn thương sọ não (CTSN) nặng. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang, có theo dõi kết cục trên 103 BN CTSN nặng điều trị tại Khoa Hồi sức Ngoại, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 12/2021 - 9/2025. Kết quả:Phần lớn BN (69,9%) trong độ tuổi lao động (từ 21 - 59 tuổi), chủ yếu là nam giới (81,6%) và nguyên nhân chính gây CTSN là tai nạn giao thông (75,73%). Nhóm tử vong có điểm Glasgow (GCS) thấp hơn nhưng điểm Marshall, Rotterdam và tỷ lệ glucose/kali HT cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sống (p < 0,05). Diện tích dưới đường cong (AUC) tiên lượng tử vong của tỷ lệ glucose/kali HT là 0,71. Mô hình hồi quy logistic đa biến dựa trên tần số tim, điểm GCS và tỷ lệ glucose/kali HT thời điểm nhập viện có ý nghĩa tiên lượng tử vong (AUC = 0,821) cao hơn so với sử dụng tỷ lệ glucose/kali HT đơn thuần. Kết luận:Tỷ lệ glucose/kali HT tại thời điểm nhập viện là chỉ số tiên lượng tử vong ở BN CTCS nặng. Mô hình hồi quy logistic đa biến dựa trên tần số tim, điểm GCS và tỷ lệ glucose/kali HT thời điểm nhập viện có khả năng dự đoán tử vong tốt hơn so với sử dụng tỷ lệ glucose/kali đơn thuần. Trần Văn Tùng, Trần Minh Sơn, Lê Đăng Mạnh, Nguyễn Phạm Sỹ Nhân, Nguyễn Thị Huyền Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1992 KẾT QUẢ SỚM NỘI SOI NGƯỢC DÒNG TÁN SỎI THẬN BẰNG ỐNG MỀM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 NĂM 2025 - 2026 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1959 Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm nội soi ngược dòng tán sỏi thận (retrograde intrarenal surgery - RIRS) bằng ống mềm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 51 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định sỏi thận có chỉ định RIRS bằng ống mềm từ tháng 8/2025 - 02/2026 tại Trung tâm Tiết niệu - Nam khoa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả: Độ tuổi trung bình đạt 52,4 ± 10,7, tỷ lệ nam/nữ ≈ 3,7/1. Kích thước sỏi trung bình là 12,1 ± 4,5mm, tỷ trọng trung bình là 934,1 ± 365,2HU. Có 25,5% trường hợp tán sỏi thận kết hợp sỏi niệu quản cùng bên di chuyển lên thận. Thời gian tán sỏi trung bình là 38,4 ± 11,9 phút và thời gian nằm viện hậu phẫu trung bình là 1,8 ngày. Tại thời điểm tái khám (trung bình là 22,5 ± 5,8 ngày), tỷ lệ sạch sỏi đạt 82,4%, tỷ lệ biến chứng nhẹ (độ I theo Clavien-Dindo) đạt 7,8%, chỉ số creatinine giảm 7,8 ± 30,6 µmol/L so với trước mổ (p < 0,05). Các yếu tố liên quan đến khả năng sót sỏi gồm sỏi nhiều viên (≥ 2 viên) và sỏi ở vị trí đài dưới. Kết luận: RIRS bằng ống mềm là kỹ thuật an toàn, với tỷ lệ sạch sỏi cao, tỷ lệ biến chứng thấp và khả năng phục hồi sau mổ nhanh. Nguyễn Việt Hải, Trần Hoàng Anh, Kiều Đức Vinh, Đỗ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Ngọc Oanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1959