Tạp chí Y Dược học Quân sự
https://jmpm.vn/index.php/jmpm
<p>Học viện Quân y là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ngành Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng với 3 nhiệm vụ chính trị trung tâm là đào tạo cán bộ quân y các cấp, đội ngũ nhân viên y tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; điều trị và nghiên cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học quân sự; không ngừng phấn đấu với vị trí của một trong những trường đại học y dược hàng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong các lĩnh vực y học quân sự và y học chung của quốc gia và quốc tế.</p> <p>Tạp chí Y Dược học Quân sự là cơ quan ngôn luận thông tin về các hoạt động của Học viện Quân y, trực thuộc Ban Giám đốc Học viện; được cấp Giấy phép hoạt động báo chí số 345/GP-BVHTT ngày 08/8/2002 và xuất bản 02 tháng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn có thể trao đổi với các đồng nghiệp trên toàn thế giới về thành tựu nghiên cứu y học, Tạp chí Y Dược học Quân sự đã đề nghị Tổng cục Chính trị cho phép tạp chí được đưa các bài viết đã đăng tải lên mạng internet và đã được sự đồng ý của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị (theo công văn số 440/VP của Văn phòng Tổng cục ngày 16/5/2005). Đây là bước phát triển quan trọng của Tạp chí Y Dược học Quân sự, tạo điều kiện cho tạp chí được trao đổi với các tạp chí có uy tín trên thế giới. Ngày 21/06/2006, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu tiên cho tới nay, Tạp chí Y Dược Quân sự đã được cấp phép sửa đổi nâng kỳ xuất bản lên 9 số/năm (Giấy phép hoạt động báo chí số 1149/GP-BTTTT năm 2012 và số 594/GP-BTTTT năm 2022) và các số Tạp chí đặc biệt cho các Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm nâng cao chất lượng tạp chí hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp chí đã xây dựng website riêng để xuất bản online và gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi bài báo, đồng thời đã thực hiện phản biện kín 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi bài báo.</p> <p>Tạp chí Y Dược học quân sự luôn nỗ lực khẳng định thương hiệu của mình, đóng góp tích cực phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị. Tạp chí Y Dược học quân sự thực sự trở thành cơ quan ngôn luận về chuyên môn khoa học, đào tạo và điều trị của Học viện Quân y, sát cánh cùng các đơn vị trong đội hình Học viện viết nên những trang vàng thành tích hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện Quân y.</p>Học viện Quân Yvi-VNTạp chí Y Dược học Quân sự1859-0748TỔNG QUAN VỀ GÂY MÊ HỒI SỨC TRONG PHẪU THUẬT - CAN THIỆP BÀO THAI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1151
Phẫu thuật - can thiệp bào thai đang có những bước tiến đột phá trong chẩn đoán trước sinh nhằm can thiệp sớm các bất thường. Đây là chuyên ngành mới tại Việt Nam, đòi hỏi chuyên môn cao đối với gây mê hồi sức sản khoa và nhi khoa vì phải chăm sóc đồng thời hai bệnh nhân nguy cơ cao nhưng vẫn đem lại lợi ích cho bào thai. Câu hỏi liệu thai nhi có cảm thấy đau hay không đau rất khó trả lời, nhưng có phản xạ đáp ứng với kích thích đau được ghi nhận và nó tác động lâu dài lên hệ thần kinh trung ương của thai nhi, vì vậy, cần phải xử trí bằng thuốc giảm đau. Mức độ ảnh hưởng của phương pháp vô cảm trên sản phụ đối với thai nhi là khác nhau, vấn đề gây mê và giảm đau cho thai nhi phụ thuộc vào loại can thiệp - phẫu thuật bào thai. Những rủi ro tiềm ẩn phải cân bằng với lợi ích của việc ức chế phản xạ sinh lý, đáp ứng với kích thích đau khi gây mê và giảm đau thai nhi.Trần Thị Hồng VânCao Đức Trùng DươngTào Tuấn Kiệt
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50351310.56535/jmpm.v50i3.1151TỔNG HỢP VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC DẪN CHẤT 6-IODOPHENYL-3H-BENZO[E][1,3]OXAZINE-2,4-DIONE
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1171
Mục tiêu: Tổng hợp và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của các dẫn chất 6-iodophenyl-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione. Phương pháp nghiên cứu: Các dẫn chất 6-iodophenyl-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione được tổng hợp từ nguyên liệu acid 5-iodosalicylic qua hai giai đoạn chính là tạo liên kết amid và tổng hợp 3 dẫn chất 6-iodophenyl-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione. Cấu trúc của các chất trung gian và sản phẩm được xác định bằng nhiệt độ nóng chảy, phổ UV, IR, MS, NMR. Phương pháp thử hoạt tính kháng khuẩn sử dụng phương pháp khuếch tán trong thạch và phương pháp pha loãng. Kết quả: Từ acid 5-iodosalicylic đã tổng hợp được 3 dẫn chất 6-iodophenyl-3H-benzo[e][1,3] oxazine-2,4-dione gồm: 6-iodo-3-phenyl-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione, 3-(2-chlorophenyl)-6-iodo-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione và 3-(3-chlorophenyl)-6-iodo-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione; các chất này được nhận dạng cấu trúc dựa trên các phổ IR, MS, NMR. Hiệu suất các phản ứng trung bình đạt 73,91%. Kết quả đánh giá hoạt tính kháng khuẩn cho thấy cả ba dẫn chất đều có tác dụng đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm. Kết luận: Tổng hợp được 3 dẫn chất 6-iodophenyl-3H-benzo[e][1,3]oxazine-2,4-dione có tác dụng kháng khuẩn tương đối mạnh, trong đó, hợp chất 3b và 3c có khả năng kháng Staphylococcus aureus và kháng Staphylococcus aureus kháng methicillin, với giá trị MIC < 2 µg/mL.Võ Thị Mỹ HươngDS Cao Hoàng HiếuNguyễn Vân AnhHuỳnh Thị Thúy QuỳnhTrần Thị Ngọc LanLê Thị Thanh Thảo
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503142310.56535/jmpm.v50i3.1171PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VANCOMYCIN TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN TRÊN NGƯỜI BỆNH TRƯỞNG THÀNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1123
Mục tiêu: Phân tích tình hình sử dụng vancomycin trong điều trị nhiễm khuẩn trên người bệnh (NB) trưởng thành tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 129 bệnh án của NB nội trú, có sử dụng vancomycin tiêm truyền tĩnh mạch từ 01/6/2022 - 31/5/2023 tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Kết quả: Quần thể NB trong nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 62 ± 15 tuổi, nam giới chiếm đa số (70,5%). NB ra viện với tình trạng khỏi/đỡ chiếm 78,3%. Tỷ lệ NB được chỉ định nuôi cấy vi sinh là 100%, với 52 mẫu bệnh phẩm cho kết quả dương tính, chủ yếu là vi khuẩn Staphylococcus aureus (44,2%). Vancomycin được chỉ định theo kinh nghiệm ở 63,6% NB. 22,5% NB được kê đơn liều nạp. Liều duy trì phổ biến: 1g/12 giờ (52,3%) và 0,5g/12 giờ (32,0%). Kết luận: Chỉ 22,5% NB được kê đơn liều nạp vancomycin, với 27,6% trong số đó dùng liều thấp hơn khuyến cáo. Liều duy trì phổ biến nhất là 1g/12 giờ và 0,5g/12 giờ, nhưng được sử dụng trên NB có chức năng thận khác nhau. Do đó, bệnh viện cần đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng nhằm tối ưu hóa chế độ liều dùng vancomycin tại bệnh viện.ThS Đặng Bảo TuấnPGS Nguyễn Thành HảiDSCKI Lưu Thùy LinhVũ Thị Thu ThủyPhùng Chí KiênVũ Dương Anh MinhNguyễn Thanh HảiNguyễn Công ThụcLê Bá Hải
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503243310.56535/jmpm.v50i3.1123ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN GIÀU CHẤT BÉO LÊN HÀNH VI LO ÂU CỦA CHUỘT CỐNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1107
Mục tiêu: Đánh giá hành vi lo âu, sợ hãi trên chuột cống gây béo phì thực nghiệm bằng chế độ ăn giàu chất béo. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm, mô tả cắt ngang có đối chứng trên 24 chuột cống đực trắng, 8 - 9 tuần tuổi và chia thành hai nhóm theo chế độ ăn gồm nhóm chế độ ăn thường (nhóm chứng, n = 12) và nhóm chế độ ăn giàu chất béo (nhóm gây mô hình, n = 12). Từ tuần thứ 8 - 10, hành vi của chuột được ghi trong 2 bài tập là bài tập trong môi trường mở và bài tập trong mê lộ chữ thập. Kết quả: Bài tập trong môi trường mở: Nhóm chứng có quãng đường, thời gian vận động và số lần vào vùng trung tâm của môi trường mở nhiều hơn so với nhóm gây mô hình (p < 0,05). Bài tập trong mê lộ chữ thập: Nhóm gây mô hình ở khu vực cánh đóng có thời gian và tần suất xuất hiện nhiều hơn so nhóm chứng (p < 0,05). Trong khi đó, thời gian và tần suất ở khu vực cánh mở và vùng giao lộ trung tâm ở nhóm gây mô hình ít hơn so với nhóm chứng (p < 0,05). Kết luận: Chuột ở nhóm gây mô hình béo phì có hành vi lo âu, sợ hãi hơn so với chuột ở nhóm chứng.TS Đinh Trọng HàTS Nguyễn Lê ChiếnTS Nguyễn Thi Hoa
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503344210.56535/jmpm.v50i3.1107KẾT QUẢ KIỂM TRA SỨC KHỎE VỪA Ở PHI CÔNG, THÀNH VIÊN TỔ BAY VÀ KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ THÀNH PHẦN CÔNG TÁC MẶT ĐẤT Ở MỘT SƯ ĐOÀN BAY TẠI PHÍA BẮC VIỆT NAM (2022 - 2024)
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1122
Mục tiêu: Mô tả một số kết quả kiểm tra sức khỏe vừa và phân loại sức khỏe của quân nhân một sư đoàn bay ở phía Bắc Việt Nam (2022 - 2024). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên phi công, thành viên tổ bay ở một sư đoàn bay. Kết quả: 100% quân nhân tại đơn vị được khám sức khỏe, trong đó, phi công đủ điều kiện bay chiếm tỷ lệ cao, năm 2022 là 97,8% và 99,3% vào năm 2023, năm 2024 là 97,4%. Trong số thành phần dù được kiểm tra sức khỏe vừa, đủ điều kiện nhảy dù chiếm lần lượt 71,9%, 84,4% và 93,3% vào các năm 2022, 2023 và 2024. Số quân nhân công tác mặt đất: Tỷ lệ cán bộ cao cấp được đánh giá sức khỏe loại 1 qua các năm chiếm 6,5% (2022), 10,3% (2023) và 8,8% (2024) và sức khỏe loại 2 chiếm đa số, khoảng 80%; sức khỏe loại 4 chiếm tỷ lệ thấp, xấp xỉ 0%. Cán bộ từ trung tá trở xuống có sức khỏe loại 2 chiếm đa số, trong đó năm 2022 chiếm 74,4%; sức khỏe loại 1 chiếm 19,5% (2022), 36,4% (2023) và 26,0% (2024); sức khỏe loại 4 chiếm tỷ lệ thấp < 1%, trong đó năm 2022 là thấp nhất với 0,3%. Kết luận: 100% quân nhân được kiểm tra sức khỏe vừa. Hầu hết phi công, thành phần dù đủ điều kiện sức khỏe thực hiện nhiệm vụ. Sức khỏe loại 2 chiếm tỷ lệ cao nhất, sức khỏe loại 1 ở cán bộ từ trung tá trở xuống cao hơn cán bộ từ trung tá trở lên, sức khỏe loại 3, 4 cần được quản lý theo dõi chặt chẽ.TS Đặng Quốc HuyHoàng Văn HoànhĐỗ Văn HùngPhạm Ngọc Dũng
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503435010.56535/jmpm.v50i3.1122GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA NỒNG ĐỘ cf EBV ADN HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ VÒM MŨI HỌNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1150
Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng sống thêm (ST) của nồng độ cf EBV (Epstein Barr virus) ADN huyết tương ở bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô vòm mũi họng (UTBMVMH). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả theo dõi dọc trên 84 BN UTBMVMH thể không biệt hóa giai đoạn III - IVa tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 8/2021 - 8/2024. Kết quả: Giá trị ngưỡng tốt nhất dự báo tái phát/di căn của EBV6 là 1,5 copy/mL và EBV12 là 9,0 copy/mL, p < 0,001. Tỷ lệ ST không bệnh và ST toàn bộ ở nhóm dưới ngưỡng cao hơn nhóm trên ngưỡng có ý nghĩa thống kê (p < 0,005). Phân tích đa biến, EBV6 và EBV12 là yếu tố tiên lượng độc lập cho ST không bệnh và ST toàn bộ. Dự báo ST không bệnh: EBV6 (1,5 copy/mL) có HR = 9,585 (95%CI = 3,124 - 29,411), p < 0,0001; EBV12 (9,0 copy/mL) có HR = 10,359 (95%CI = 2,528 - 42,442), p = 0,001. Dự báo ST toàn bộ: EBV12 (9,0 copy/mL) có HR = 5,933 (95%CI = 1,141 - 30,852), p < 0,05; EBV6 (1,5 copy/mL) có HR = 5,517 (95%CI = 1,604 - 18,975), p < 0,05. Kết luận: Ngưỡng EBV6 tối ưu là 1,5 copy/mL và EBV12 tối ưu là 9,0 copy/mL, là các yếu tố tiên lượng độc lập cho thời gian ST không bệnh và ST toàn bộ.Đỗ Lan HươngPGS, TS Nghiêm Đức ThuậnGS,TS Nguyễn Văn BaTS Quản Thành NamTS Nguyễn Phi LongTS Nguyễn Văn ĐăngTS Nguyễn Đình ỨngĐào Thùy Trang
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503516010.56535/jmpm.v50i3.1150BÁO CÁO CA BỆNH: CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH HỘI CHỨNG CRI-DU-CHAT Ở THAI HẾT ỐI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1090
Hội chứng Cri-du-chat là hội chứng di truyền hiếm gặp, do mất một đoạn ngắn trên nhiễm sắc thể 5, với tỷ lệ ước tính khoảng 1/45.000 trẻ được sinh ra. Hầu hết các đoạn mất này là de novo (mới phát sinh). Các triệu chứng điển hình của bệnh bao gồm tiếng kêu the thé đặc trưng như tiếng mèo, giảm trương lực cơ, chu vi vòng đầu nhỏ, chậm tăng trưởng, chậm phát triển tâm thần và vận động khi lớn. Chúng tôi báo cáo 01 trường hợp thai mắc hội chứng Cri-du-chat có biểu hiện hết ối hiếm gặp, không quan sát thấy bàng quang, theo dõi thận đa nang. Thiếu dịch ối gây khó khăn trong việc chẩn đoán bất thường của thai. Nhờ ứng dụng kỹ thuật truyền dịch vào buồng ối và lấy mẫu dịch ối làm xét nghiệm di truyền, các bất thường hình thái và bất thường di truyền của thai đã được làm rõ.TS Nguyễn Thị SimTS Mai Trọng HưngPGS.TS Lương Thị Lan AnhThS Thân Thị Thu CảnhBSCKII Ngô Thị HươngBSCKI Hồ Khánh DungBSCKI Vương Thị Bích ThủyThS Nguyễn Thị Minh NgọcThS Nguyễn Ngọc DũngThS Nguyễn Đức Anh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503616710.56535/jmpm.v50i3.1090ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC VÀ THÀNH PHẦN HEMOGLOBIN CỦA NGƯỜI MANG GENE BETA THALASSEMIA TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1181
Mục tiêu: Mô tả các dạng đột biến của người mang gene bệnh beta thalassemia (β-thalassemia) và nhận xét đặc điểm huyết học ở người mang đột biến gene β-thalassemia. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 155 đối tượng được xác định có đột biến β-thalassemia (gene β), có xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi và điện di huyết sắc tố tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 10/2017 - 9/2024. Kết quả: Trong số những người có đột biến β-thalassemia, 22,6% có đột biến alpha (α) kèm theo. MCV, MCH trung bình là 76,4 ± 3,37fl và 25,1 ± 1,26pg ở người mang gene HbE. MCV, MCH trung bình là 63,2 ± 3,08fl và 20,1 ± 1,31pg ở người mang gene β0/β hoặc β+/β. Sử dụng công thức máu và điện di khó xác định được người mang gene bệnh β-thalassemia đơn thuần hay có kết hợp với đột biến α+, α0 ngoại trừ trường hợp HbE kết hợp đột biến α0 có %HbE < 20%. Kết luận: MCV, MCH, %HbE có mối liên quan chặt chẽ với đột biến gene β. Cần xét nghiệm xác định đột biến gene α-thalassemia ở người xác định có đột biến gene β-thalassemia.TS Đinh Thúy LinhPhạm Thế VươngTS Mai Trọng Hưng
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503687810.56535/jmpm.v50i3.1181ĐẶC ĐIỂM BIÊN ĐỘ SÓNG ALPHA VÙNG ĐỈNH, CHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1049
Mục tiêu: Khảo sát biên độ sóng alpha vùng đỉnh, chẩm hai bên bán cầu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) lọc máu chu kỳ (LMCK). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 60 BN LMCK điều trị từ tháng 8/2023 - 5/2024 tại Khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103. Điện não đồ được ghi trong trạng thái nhắm mắt nghỉ ngơi vào ngày không lọc máu. Phân tích tương quan Pearson, kiểm định independent samples T-test và phân tích phương sai được sử dụng để phân tích số liệu. Kết quả: Biên độ sóng alpha vùng đỉnh, chẩm bên trái bán cầu là 31,4µV và 35,3µV và bên phải bán cầu là 28,7µV và 33,1µV. Nồng độ creatinine, acid uric và Ca++ trong máu có tương quan nghịch và có ý nghĩa thống kê với biên độ sóng alpha vùng chẩm bên trái bán cầu. Ngược lại, chiều cao và cân nặng có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với biên độ sóng alpha vùng chẩm bên trái bán cầu. Kết luận:Giảm biên độ sóng alpha vùng đỉnh, chẩm ở hai bên bán cầu. Chiều cao, cân nặng, nồng độ creatinine, acid uric, Ca++ là các yếu tố liên quan tới biến đổi biên độ sóng alpha ở BN LMCK.Phạm Ngọc ThảoPGS Phạm Quốc ToảnPGS Lê Việt Thắng
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503798710.56535/jmpm.v50i3.1049ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUY TRÌNH KỸ THUẬT PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TIM MẠCH SAU CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1184
Mục tiêu: Đánh giá tính an toàn và hiệu quả chương trình phục hồi chức năng tim mạch (PHCNTM) sau can thiệp động mạch vành qua da (CTĐMVQD). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, có nhóm đối chứng trên 72 bệnh nhân (BN) sau CTĐMVQD ổn định, được chia làm 2 nhóm, nhóm can thiệp (CT) gồm 36 BN, được tập PHCNTM ngoại trú tại Khoa Phục hồi chức năng (PHCN) và nhóm đối chứng (ĐC) gồm 36 BN không thể tập tại Khoa PHCN và được hướng dẫn tập tại nhà từ tháng 4/2022 - 12/2023. Kết quả: PHCNTM an toàn với BN sau CTĐMVQD, không xảy ra các biến chứng tim mạch, hô hấp và thần kinh. Nhóm CT cải thiện VO2 tối đa 2,04 ± 1,87 mL/kg/phút (p < 0,01), nghiệm pháp đi bộ 6 phút tăng khoảng cách 49m (p < 0,01) và lượng giá chất lượng cuộc sống (CLCS) theo thang điểm MacNew cải thiện (p < 0,01), gồm ba điểm thành phần là tinh thần (p < 0,05), thể chất (p < 0,01) và xã hội (p < 0,01), thay đổi có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Chương trình PHCNTM an toàn và hiệu quả trên kết quả lượng giá chức năng tim mạch, CLCS cho BN sau CTĐMVQD.TS. BS Trần Quốc ViệtBS CKII Lê Thanh LiêmBS Bùi Mạnh HàBS Hoàng Hải Anh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
503889710.56535/jmpm.v50i3.1184BÁO CÁO CA BỆNH: ĐỒNG MẮC BẠCH CẦU TỦY MẠN CHUYỂN BẠCH CẦU CẤP DÒNG TỦY VÀ U LYMPHO KHÔNG HODGKIN TẾ BÀO T
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1203
Chúng tôi báo cáo một trường hợp đồng mắc bạch cầu cấp dòng tủy (acute myeloid leukemia - AML) và u lympho không Hodgkin tế bào T. Đây là trường hợp đồng mắc hai bệnh máu ác tính hiếm gặp ở cùng một bệnh nhân (BN). Quá trình chẩn đoán và đưa ra phương án điều trị gặp nhiều khó khăn. Ban đầu, BN được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu tủy mạn giai đoạn tăng tốc, BCR-ABL p210 dương tính, BN đã được điều trị bằng imatinib và các chỉ số máu cải thiện nhưng hạch vẫn to. BN được sinh thiết hạch nhuộm HE và hóa mô miễn dịch cho kết quả u lympho không Hodgkin tế bào T. Sau đó, BN được hóa trị phác đồ 3+7, điều trị củng cố HiDAC 3 chu kỳ và đánh giá đạt lui bệnh hoàn toàn về huyết học. Hiện nay, chưa có phác đồ điều trị chuẩn cho các BN đồng mắc hai loại bệnh này. Ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài được cho là lựa chọn ưu tiên có thể giúp chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, do không có nguồn tế bào gốc phù hợp từ anh chị em ruột, nên điều trị hiện tại ở BN này vẫn còn nhiều thách thức.Lê Thị Thu HuyềnTS Nguyễn Thanh BìnhBS Phạm Thị HuyênBS CKI Hồ Xuân TrườngBS CKII Phạm Văn HiệuThS Phan Thị Thanh LongBS Nguyễn Thị Thùy TrangBS CKI Phạm Thị Tuyết Nhung
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
5039810510.56535/jmpm.v50i3.1203HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP SIÊU ÂM XUNG TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM CÂN GAN BÀN CHÂN MẠN TÍNH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1152
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của liệu pháp siêu âm xung trong điều trị viêm cân gan bàn chân mạn tính. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, mù đôi được thực hiện trên 59 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán viêm cân gan bàn chân mạn tính 1 bên. BN được chia thành 2 nhóm: Nhóm can thiệp với 30 BN được điều trị bằng siêu âm xung liều cao kết hợp với kéo giãn trong 4 tuần; nhóm chứng với 29 BN được điều trị bằng phương pháp kéo giãn trong 4 tuần. Điểm đau VAS (visual analog scale), độ dày cân gan bàn chân trên siêu âm và chỉ số chức năng bàn chân FFI (foot function index) được đánh giá lúc nhập viện và sau điều trị 4 tuần. Số liệu được phân tích và xử lý bằng các thuật toán thống kê và mức ý nghĩa thống kê đề xuất là 5%. Kết quả: Sau 4 tuần điều trị điểm đau VAS, độ dày cân gan bàn chân và FFI bên bệnh đều giảm đáng kể ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng, có ý nghĩa thống kê với cùng giá trị p = 0,001. Kết luận: Liệu pháp siêu âm xung liều cao tiến hành trước khi thực hiện kéo giãn có tác dụng giảm đau nhanh và cải thiện chức năng bàn chân trong điều trị viêm cân gan bàn chân mạn tính.Tiến sĩ Nguyễn Phương SinhTiến sĩ Nguyễn Đăng ĐứcTiến sĩ Lã Duy Anh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50310611410.56535/jmpm.v50i3.1152THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ STRESS CỦA NGƯỜI BỆNH NGHIỆN HEROIN ĐANG ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN BẰNG METHADONE TẠI HAI HUYỆN THUỘC TỈNH YÊN BÁI NĂM 2023
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1092
Mục tiêu: Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu, stress và các yếu tố liên quan của người bệnh (NB) nghiện heroin đang điều trị cai nghiện bằng Methadone (MMT) tại hai huyện thuộc tỉnh Yên Bái, năm 2023. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 NB sử dụng thang đo căng thẳng, lo âu, trầm cảm DASS-21 để đánh giá tình trạng rối loạn tâm thần. Kết quả: Lo âu là rối loạn tâm thần phổ biến nhất (73,5%), tiếp theo là trầm cảm (36%) và stress (8,5%). Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn tâm thần ở nhóm NB này là độ tuổi, liều MMT, tác dụng phụ của thuốc, sự hỗ trợ của gia đình trong quá trình điều trị. Kết luận: Tình trạng rối loạn tâm thần ở những NB nghiện heroin điều trị cai nghiện bằng MMT khá cao, lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất. Liều điều trị MMT hiện tại là yếu tố nguy cơ có liên quan đến cả ba tình trạng lo âu, trầm cảm và stress của NB.Hoàng Thị HàThs Bùi Quang Đạt
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50311512310.56535/jmpm.v50i3.1092NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA HẠ SỸ QUAN - CHIẾN SỸ BỊ BỆNH GHẺ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 TRONG HAI NĂM 2023 - 2024
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1198
Mục tiêu: Nhằm nâng cao nhận thức của hạ sỹ quan - chiến sỹ về bệnh ghẻ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 188 người bệnh (NB) điều trị tại Khoa Da liễu, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2023 - 12/2024. Kết quả:Tuổi trung bình của NB là 20,87 ± 1,76. Số ca bệnh tăng cao từ tháng 6 - 8/2023 và từ tháng 11/2023 - 02/2024. Có 38,8% NB có tiền sử bị ghẻ. Tổn thương thường gặp ở kẽ ngón tay, lòng bàn tay (83,5%) và vùng bẹn - sinh dục (78,2%). Tổn thương cơ bản chủ yếu là mụn nước (93,6%), vết xước gãi (80,3%); có 21,8% là mụn mủ. Thể giản đơn hay gặp nhất, sau đó là thể bội nhiễm và chàm hoá (lần lượt là 54,8%, 37,8% và 7,4%). Giá trị huyết sắc tố, tiểu cầu và chức năng thận của NB không bị ảnh hưởng. Tỷ lệ NB có tăng bạch cầu là 25,5%, tăng bạch cầu đa nhân trung tính là 16,0% và tăng CRP là 31,4% (hay gặp hơn ở thể bội nhiễm), p < 0,05. Có 50,5% NB có tăng bạch cầu ái toan nhưng không có sự khác biệt giữa các thể lâm sàng, p > 0,05. Kết luận: Tổn thương hay gặp nhất là vùng kẽ ngón và vùng bẹn - sinh dục. Các marker viêm tăng ở thể bội nhiễm nên các bác sỹ cần theo dõi các chỉ số xét nghiệm này trong quá trình điều trị. Thời gian bị bệnh cao điểm vào mùa hè và thời điểm thay quân nên các đơn vị chú ý giáo dục bộ đội phòng bệnh ghẻ trong thời gian này.Trịnh Công ĐiểnThS Nguyễn Thị QuỳnhTS Nguyễn Việt Phương
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50312413410.56535/jmpm.v50i3.1198VỊ TRÍ KHỞI PHÁT VÀ KẾT QUẢ TRIỆT ĐỐT CƠN TIM NHANH NHĨ TRONG 5 NĂM
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1157
Mục tiêu: Mô tả vị trí khởi phát và đánh giá kết quả triệt đốt nhịp nhanh nhĩ (NNN) trong 5 năm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả thực hiện trên 43 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán mắc NNN và điều trị triệt đốt bằng năng lượng tần số radio (radiofrequency - RF) từ tháng 9/2019 - 9/2024 tại Bệnh viện E. Kết quả: Hai cơ chế chính của NNN là nhanh nhĩ ổ (56%) và cuồng nhĩ (44%). Phần lớn NNN khởi phát từ tim phải (76,7%), với tỷ lệ cao nhất ở vòng van ba lá (27,9%) và mào tận cùng (20,9%). Thời gian theo dõi trung bình là 30,5 tháng, tỷ lệ thành công sớm là 88,3% và sau theo dõi là 79,0%. Nhóm cuồng nhĩ có tỷ lệ thành công cao hơn nhóm nhanh nhĩ ổ. Không có biến chứng nào xảy ra. Kết luận: Cơn nhịp nhanh ổ gặp nhiều hơn cơn cuồng nhĩ, với vị trí khởi phát chủ yếu từ tâm nhĩ phải, đặc biệt là vòng van ba lá và lỗ xoang tĩnh mạch vành. Triệt đốt bằng năng lượng RF có kết quả thành công cao và ít biến chứng.TS Vũ Văn BạLê Tiến DũngBSCKII Nguyễn Thế HuyThạc sĩ Đỗ Đức ThịnhĐỗ Lê Anh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50313514310.56535/jmpm.v50i3.1157KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN KHÔNG VỮNG THÂN XƯƠNG ĐÙI Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH BẰNG ĐINH NỘI TỦY NEOGEN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1172
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín không vững thân xương đùi ở người trưởng thành bằng đinh nội tủy (ĐNT) Neogen. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, tiến cứu, mô tả không nhóm chứng trên 40 bệnh nhân (BN) gãy kín thân xương đùi không vững được nắn chỉnh mở và kết xương bên trong bằng ĐNT Neogen tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2022 - 6/2024. Kết quả:Tuổi trung bình của BN là 45,1 ± 20,8 (18 - 86 tuổi). Nam giới (32 BN = 80,0%) bị tổn thương nhiều hơn nữ giới, tai nạn giao thông (TNGT) là nguyên nhân chủ yếu với 25 BN (62,5%). Phần lớn gãy thân xương đùi loại A với 25/40 BN (62,5%), trong đó, gãy loại A1 và A2 là chủ yếu. Gãy chéo vát và gãy có mảnh rời lớn chiếm đa số với 14/40 BN (35%) mỗi loại. Tất cả các ổ gãy đều liền xương sau 12 tháng, kết quả phục hồi chức năng (PHCN): 87,5% đạt rất tốt, 22,5% đạt tốt. Có 01/40 BN (2,5%) nhiễm khuẩn nông, không có biến chứng nhiễm khuẩn sâu, chậm liền xương và khớp giả. Kết luận:Phương pháp kết xương đùi bằng ĐNT có chốt Neogen mang lại kết quả khả quan, là lựa chọn phù hợp trong điều trị gãy kín không vững thân xương đùi.Lê Quang ĐạoTS Nguyễn Bá NgọcTS Nguyễn Hữu Đạt
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50314415210.56535/jmpm.v50i3.1172ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SAI KHỚP VAI TÁI DIỄN BẰNG PHẪU THUẬT BANKART NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1164
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị sai khớp vai tái diễn bằng phẫu thuật Bankart nội soi và nhận xét về phương pháp phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 30 trường hợp (TH) sai khớp vai tái diễn được điều trị bằng phẫu thuật Bankart nội soi tại Khoa Phẫu thuật Khớp, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2017 - 01/2022. Kết quả: 30 TH (100%) liền vết mổ kỳ đầu, không có biến chứng sớm sau phẫu thuật. Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật là 8,9 ± 2,917 ngày. Theo thang điểm ROWE: 18/30 TH (60%) có kết quả rất tốt, 9/30 TH (30%) có kết quả tốt. Tỷ lệ hài lòng và rất hài lòng là 29/30 TH (96,67%). Kết luận: Phẫu thuật Bankart nội soi là lựa chọn thích hợp để điều trị sai khớp vai tái diễn với điểm ROWE rất khả quan sau phẫu thuật.Vũ Anh DũngTS Hoàng Thế HùngPhạm Tiến ThànhPhạm Ngọc ThắngNguyễn Hữu Đạt
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50315316110.56535/jmpm.v50i3.1164ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ XỬ TRÍ CẤP CỨU CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN TẠI BỘ MÔN - TRUNG TÂM NGOẠI DÃ CHIẾN, BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1128
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử trí cấp cứu chấn thương ngực kín (CTNK). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 224 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định có CTNK, được cấp cứu, điều trị tại Bộ môn - Trung tâm Ngoại Dã chiến (BM-TT NDC), Bệnh viện Quân y (BVQY) 103 từ tháng 5/2024 - 11/2024. Kết quả: Tuổi trung bình là 47,33, nam giới chiếm 78,57%, nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (TNGT) (70,98%). Đặc điểm lâm sàng đau ngực và gãy xương sườn gặp ở tất cả các BN (100%). Tổn thương phổi - màng phổi chiếm 70,98%; trong đó có tràn máu màng phổi (37,05%), đụng giập nhu mô phổi (18,75%), tràn khí, tràn máu kết hợp (11,16%), tràn khí khoang màng phổi đơn thuần (4,02%). Có 63,39% BN phải nhập viện điều trị, 8/224 BN phải dẫn lưu khoang màng phổi cấp cứu. Kết luận:Nguyên nhân thường gặp là TNGT, đau ngực là triệu chứng thường gặp, gãy xương sườn là tổn thương chủ yếu hay gặp nhất, gần 2/3 (63,39%) BN cần nhập viện điều trị.ThS Nguyễn Thế AnhTS Lê Văn HảiTS Lê Việt Anh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50316216910.56535/jmpm.v50i3.1128NHẬN XÉT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHẪU THUẬT TRƯỢT THÂN ĐỐT SỐNG HAI TẦNG LIỀN KỀ VÙNG THẮT LƯNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1129
Mục tiêu: Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến phẫu thuật trượt thân đốt sống hai tầng liền kề vùng thắt lưng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả được thực hiện trên 30 người bệnh (NB) mắc trượt đốt sống hai tầng liền kề vùng thắt lưng, được phẫu thuật (PT) từ tháng 5/2020 - 12/2023 tại Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Quân y 175. Đánh giá một số yếu tố liên quan đến PT. Kết quả: 60% NB có thời gian PT trong khoảng 120 - 180 phút. 53,3% các trường hợp mảnh ghép nằm ở 1/3 giữa thân đốt và 46,7% các trường hợp mảnh ghép nằm ở 1/3 trước thân đốt. 70% vít nằm ở bờ trên cuống và 30% vít nằm ở giữa cuống. Nhóm NB ≥ 60 tuổi có tỷ lệ ODI ở mức 1 cao hơn nhóm NB 40 - 59 tuổi (p = 0,54). Nhóm NB nữ có tỷ lệ ODI ở mức 1 cao hơn nhóm NB nam (p = 0,17). Nhóm NB trượt độ I trước PT có tỷ lệ ODI ở mức 1 cao hơn nhóm NB trượt độ II trước PT (p = 0,29). Kết luận: PT cố định bằng vít và ghép xương cho kết quả tốt. Chỉ số ODI không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm NB theo độ tuổi, giới tính và mức độ trượt đốt sống trước PT.Tiến sĩ Nguyễn Xuân PhươngPhạm Ngọc HàoTrần Trung Kiên
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50317017710.56535/jmpm.v50i3.1129NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG CỦA NỒNG ĐỘ LACTATE MÁU THỜI ĐIỂM NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1190
Mục tiêu: Tìm hiểu giá trị tiên lượng tử vong của nồng độ lactate máu thời điểm nhập viện ở bệnh nhân (BN) đa chấn thương. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 196 BN đa chấn thương tại Bệnh viện Quân y 103. Kết quả: BN đa chấn thương chủ yếu là nam giới (80,1%), trong độ tuổi lao động (20 - 40 tuổi, 38,8%) với nguyên nhân chính là tai nạn giao thông (66,8%). 40,8% BN có lactate lúc nhập viện > 4. Điểm ISS và lactate thời điểm nhập viện đều có ý nghĩa tiên lượng tử vong với diện tích dưới đường cong lần lượt là 0,757 và 0,70. Điểm ISS, glucose, lactate là các yếu tố nguy cơ tử vong độc lập ở BN đa chấn thương. Kết luận: Nồng độ lactate máu thời điểm nhập viện ở BN đa chấn thương có ý nghĩa tiên lượng tử vong có ý nghĩa thống kê.TS Vũ Minh DươngLê Đăng MạnhTS Nguyễn Quang HuyLê Trung ViệtPhạm Trung LươngNguyễn Trung Kiên
Copyright (c) 2025 Tạp chí Y Dược học Quân sự
50317818510.56535/jmpm.v50i3.1190