Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm <p>Học viện Qu&acirc;n y l&agrave; cơ sở đ&agrave;o tạo đại học, sau đại học ng&agrave;nh Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc ph&ograve;ng với 3 nhiệm vụ ch&iacute;nh trị trung t&acirc;m l&agrave; đ&agrave;o tạo c&aacute;n bộ qu&acirc;n y c&aacute;c cấp, đội ngũ nh&acirc;n vi&ecirc;n y tế phục vụ sự nghiệp c&ocirc;ng nghiệp h&oacute;a, hiện đại h&oacute;a đất nước; điều trị v&agrave; nghi&ecirc;n cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học qu&acirc;n sự; kh&ocirc;ng ngừng phấn đấu với vị tr&iacute; của một trong những trường đại học y dược h&agrave;ng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở th&agrave;nh trung t&acirc;m đ&agrave;o tạo nh&acirc;n lực, nghi&ecirc;n cứu khoa học, ph&aacute;t triển v&agrave; ứng dụng c&aacute;c kỹ thuật ti&ecirc;n tiến trong c&aacute;c lĩnh vực y học qu&acirc;n sự v&agrave; y học chung của quốc gia v&agrave; quốc tế.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự l&agrave; cơ quan ng&ocirc;n luận th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Học viện Qu&acirc;n y, trực thuộc Ban Gi&aacute;m đốc Học viện; được cấp Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 345/GP-BVHTT ng&agrave;y 08/8/2002 v&agrave; xuất bản 02 th&aacute;ng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn c&oacute; thể trao đổi với c&aacute;c đồng nghiệp tr&ecirc;n to&agrave;n thế giới về th&agrave;nh tựu nghi&ecirc;n cứu y học, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự đ&atilde; đề nghị Tổng cục Ch&iacute;nh trị cho ph&eacute;p tạp ch&iacute; được đưa c&aacute;c b&agrave;i viết đ&atilde; đăng tải l&ecirc;n mạng internet v&agrave; đ&atilde; được sự đồng &yacute; của Thủ trưởng Tổng cục Ch&iacute;nh trị (theo c&ocirc;ng văn số 440/VP của Văn ph&ograve;ng Tổng cục ng&agrave;y 16/5/2005). Đ&acirc;y l&agrave; bước ph&aacute;t triển quan trọng của Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự, tạo điều kiện cho tạp ch&iacute; được trao đổi với c&aacute;c tạp ch&iacute; c&oacute; uy t&iacute;n tr&ecirc;n thế giới. Ng&agrave;y 21/06/2006, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ng&agrave;y 6/5/2026, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu ti&ecirc;n cho tới nay, Tạp ch&iacute; Y Dược Qu&acirc;n sự đ&atilde; được cấp ph&eacute;p sửa đổi n&acirc;ng kỳ xuất bản l&ecirc;n 12 số/năm, trong đ&oacute; c&oacute; 10 số tiếng Việt v&agrave; 02 số tiếng Anh (Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 1149/GP-BTTTT năm 2012 v&agrave; số 594/GP-BTTTT năm 2022 v&agrave; C&ocirc;ng văn số 3201/BVHTTDL-BC ng&agrave;y 03 th&aacute;ng 6 năm 2026 của Bộ Văn h&oacute;a, Thể thao v&agrave; Du lịch) v&agrave; c&aacute;c số Tạp ch&iacute; đặc biệt cho c&aacute;c Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm n&acirc;ng cao chất lượng tạp ch&iacute; hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp ch&iacute; đ&atilde; x&acirc;y dựng website ri&ecirc;ng để xuất bản online v&agrave; gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o, đồng thời đ&atilde; thực hiện phản biện k&iacute;n 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự lu&ocirc;n nỗ lực khẳng định thương hiệu của m&igrave;nh, đ&oacute;ng g&oacute;p t&iacute;ch cực phục vụ c&ocirc;ng t&aacute;c đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; điều trị. Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự thực sự trở th&agrave;nh cơ quan ng&ocirc;n luận về chuy&ecirc;n m&ocirc;n khoa học, đ&agrave;o tạo v&agrave; điều trị của Học viện Qu&acirc;n y, s&aacute;t c&aacute;nh c&ugrave;ng c&aacute;c đơn vị trong đội h&igrave;nh Học viện viết n&ecirc;n những trang v&agrave;ng th&agrave;nh t&iacute;ch hơn 70 năm x&acirc;y dựng v&agrave; trưởng th&agrave;nh của Học viện Qu&acirc;n y.</p> Vietnam Military Medical University vi-VN Tạp chí Y Dược học Quân sự 1859-0748 HIỆU QUẢ CỦA TẬP LUYỆN HẠN CHẾ LƯU LƯỢNG MÁU TRONG CẢI THIỆN SỨC MẠNH CƠ VÀ CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2075 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của tập luyện hạn chế lưu lượng máu (blood flow restriction training - BFRT) trong việc cải thiện sức mạnh cơ và chức năng vận động ở người cao tuổi (NCT). Phương pháp nghiên cứu: Các nghiên cứu được tìm kiếm trên PubMed, Web of Science và Scopus trong giai đoạn 2020 - 2026. Tiêu chí lựa chọn gồm NCT đã áp dụng BFRT và báo cáo kết quả về sức mạnh cơ hoặc chức năng vận động. Có 8 nghiên cứu được lựa chọn và tổng hợp định tính theo phương pháp tổng quan hệ thống. Kết quả: BFRT giúp cải thiện rõ rệt sức mạnh cơ, trong khi hiệu quả đối với chức năng vận động có sự biến thiên, phụ thuộc vào đặc điểm đối tượng và hình thức can thiệp. Các phương pháp kết hợp, đặc biệt với tập chức năng hoặc rung toàn thân, mang lại hiệu quả toàn diện hơn. Kết luận: Phương pháp này có giá trị ứng dụng trong việc cải thiện chức năng vận động ở NCT, đặc biệt ở những người không thể thực hiện bài tập cường độ cao. Lê Văn Minh Lê Anh Tú Bùi Duy Hoàn Nguyễn Đình Thành Nguyễn Văn Thư Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 7 14 10.56535/jmpm.v51i8.2075 ĐỘC TÍNH CẤP ĐƯỜNG UỐNG VÀ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA CAO LỎNG “HUYẾT GIÁC TÔ MỘC CHỈ GIÁP HOA THANG” TRÊN THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2038 Mục tiêu:Đánh giá độc tính cấp đường uống và tác dụng giảm đau của cao lỏng “Huyết giác tô mộc chỉ giáp hoa thang” (HG) trên chuột nhắt trắng. Phương pháp nghiên cứu: Đánh giá độc tính cấp được thực hiện theo Hướng dẫn của Bộ Y tế; tác dụng giảm đau được đánh giá bằng mô hình kích thích bằng mâm nóng và gây đau quặn bằng acid acetic. Kết quả: Với liều cao nhất là 499,20 g dược liệu khô/kg thể trọng (g/kg), cao lỏng HG không gây chết chuột. Chuột vẫn khỏe mạnh sau 7 ngày và chưa xác định được liều LD50. Ở liều 24,96 và 74,88 g/kg/ngày × 7 ngày, cao lỏng HG giúp kéo dài đáng kể thời gian chuột chịu được kích thích nhiệt, giảm số cơn đau quặn và làm chậm sự xuất hiện của cơn đau đầu tiên so với lô chứng (p < 0,001 và p < 0,01). Kết luận: Cao lỏng HG không gây độc tính cấp đường uống ở liều 499,20 g/kg, có tác dụng giảm đau trung ương và ngoại vi trên chuột nhắt trắng ở liều 24,96 và 74,88 g/kg/ngày × 7 ngày. Nguyễn Thị Minh Thu Bùi Thị Hạnh Ly Lê Nguyên Long Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 15 23 10.56535/jmpm.v51i8.2038 GIẢI PHẪU PHÂN NHÁNH ĐỘNG MẠCH ĐÙI Ở THỎ: TỪ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI ĐẾN ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2126 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm phân nhánh, đường kính và vị trí xuất phát các nhánh của động mạch đùi ở thỏ ứng dụng trong thực nghiệm.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứumô tả cắt ngang có phân tích trên 32 mẫu đùi của 16 xác thỏ tươi được bơm làm đầy lòng mạch bằng latex. Phẫu tích và đo các thông số giải phẫu tại Bộ môn Giải phẫu, Học viện Quân y từ tháng 3 - 5/2026.Kết quả:Động mạch đùi thỏ có nhiều nhánh bên với tỷ lệ xuất hiện khác nhau. Động mạch hiển (saphenous artery - SA) xuất hiện 100%, các nhánh động mạch mũ đùi ngoài (lateral circumflex femoral artery - LCFA) và động mạch thượng vị đuôi nông (superficial caudal epigastric artery - SCEA) đạt 96,88%, động mạch đùi sâu (deep femoral artery - DFA) và động mạch gối xuống (descending genicular artery - DGA) đạt 90,63%. LCFA có đường kính lớn nhất (0,878 ± 0,277mm). Có sự khác biệt về đường kính thân sinh dục thượng vị hai bên (pudendoepigastric trunk - PET); p < 0,05. Kết luận:Động mạch đùi thỏ có hệ thống phân nhánh đa dạng, trong đó một số nhánh có giá trị trong ứng dụng thực nghiệm. Nguyễn Minh Tâm Nguyễn Trung Hưng Ngô Bá Hoàng Lam Khuất Đình Khánh Nguyễn Minh Ngọc Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 24 32 10.56535/jmpm.v51i8.2126 ĐẶC ĐIỂM NHIỄM, YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CANDIDA GÂY VIÊM ÂM ĐẠO TẠI HÀ NỘI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2082 Mục tiêu:Mô tả một số đặc điểm nhiễm, yếu tố liên quan và thành phần loài Candida gây viêm âm đạo tại Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích trên 1.402 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (18 - 49 tuổi) bị viêm âm đạo tại một số bệnh viện ở Hà Nội từ tháng 10/2019 - 9/2021 và từ tháng 12/2023 - 10/2025. Thông tin được thu thập bằng phiếu phỏng vấn; bệnh phẩm dịch âm đạo được lấy để xác định nhiễm nấm và định danh loài bằng soi tươi, thử nghiệm ống mầm và nuôi cấy trên môi trường sinh màu CHROMagarTM Candida. Kết quả:Tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo là 48,24%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm đang mang thai (OR = 1,32; 95%CI: 1,01 - 1,73) và quan hệ tình dục bằng đường miệng (OR = 1,32; 95%CI: 1,04 - 1,69). Các đặc điểm lâm sàng liên quan gồm số lượng, tính chất, màu sắc khí, ngứa, ra máu và cảm giác nóng rát âm đạo (p < 0,05). C. albicans là loài gây bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (50,59%), tiếp đến là C. glabrata (11,09%), C. krusei (4,88%), và C. tropicalis (3,40%). Kết luận: Tỷ lệ nhiễm Candidaở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị viêm âm đạo khá cao và liên quan đến một số yếu tố nguy cơ. Cần kết hợp lâm sàng và xét nghiệm vi ký sinh trong chẩn đoán, đồng thời lưu ý các loài non-albicans Candida trong điều trị. Nguyễn Thị Như Quỳnh Phạm Khánh Linh Đinh Thị Thanh Xuân Lê Thị Thanh Nga Nguyễn Thị Phương Thảo Nguyễn Lê Vân Đỗ Ngọc Ánh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 33 42 10.56535/jmpm.v51i8.2082 BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA XÉT NGHIỆM PGT-M CHO CÁC BỆNH ĐƠN GENE BẰNG BỘ KIT TỰ PHÁT TRIỂN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2029 Mục tiêu: Đánh giá bước đầu hiệu quả kỹ thuật và giá trị lâm sàng của quy trình xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh đơn gene (preimplantation genetic testing for monogenic disorders - PGT-M), sử dụng bộ kit Eurofins trong thực hành thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên 32 cặp vợ chồng có chỉ định PGT-M, quy trình sử dụng bộ kit tự phát triển (Eurofins) tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội. Kết quả: Trong 163 phôi nang được sinh thiết, 37 phôi (22,7%) mang đột biến bệnh lý, 118 phôi (72,4%) đủ điều kiện chuyển, 3 phôi (1,8%) thất bại khuếch đại và 5 phôi (3,1%) không có kết luận. Tỷ lệ xét nghiệm thành công đạt 95,1% và tỷ lệ báo cáo là 96,9%. Tổng cộng 28 bệnh nhân thực hiện 40 chu kỳ chuyển phôi, với tỷ lệ có thai lâm sàng đạt 72,5%, tỷ lệ thai tiến triển là 65,0% và tỷ lệ trẻ sinh sống là 62,5%. Dữ liệu theo dõi trước sinh và sau sinh ở 9 trường hợp đều phù hợp với chẩn đoán PGT-M. Kết luận: Kết quả bước đầu cho thấy quy trình xét nghiệm PGT-M sử dụng bộ kit Eurofins có độ ổn định kỹ thuật tốt và mang lại kết cục lâm sàng thuận lợi trong thực hành IVF thường quy. Bùi Thị Phương Hoa Phạm Đình Minh Vũ Thu Hương Phạm Văn Hưởng Nguyễn Thành Trung Nguyễn Thị Thanh Hải Nguyễn Thị Huyền Trang Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 43 52 10.56535/jmpm.v51i8.2029 MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẠCH CẦU ÁI TOAN MÔ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2045 Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa bạch cầu ái toan (BCAT) mô niêm mạc tai giữa và một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm tai giữa mạn tính (VTGMT). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên trên 31 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định VTGMT, điều trị phẫu thuật tại Bộ môn - Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. Kết quả:Nhóm có BCAT mô có xu hướng tăng nguy cơ xẹp nhĩ, tăng tỷ lệ dịch mủ vàng/xanh, polyp hòm nhĩ và mòn tường thượng nhĩ trên cắt lớp vi tính (CLVT) so với nhóm không có, tuy nhiên, sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhóm có BCAT mô có khả năng hòm nhĩ mờ trên CLVT cao hơn nhóm còn lại 7,50 lần; đồng thời ghi nhận mức độ suy giảm thính lực cao hơn với PTA lần lượt là 44,78 ± 3,06 và 36,92 ± 2,16dB, sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết luận: Nhóm có BCAT mô niêm mạc tai giữa có xu hướng xẹp nhĩ, tổn thương hòm nhĩ và tường thượng nhĩ trên CLVT, giảm thính lực nặng hơn so với nhóm không có BCAT mô ở bệnh VTGMT. Nguyễn Thanh Hải Đỗ Lan Hương Nguyễn Phi Long Vũ Văn Minh Nghiêm Đức Thuận Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 53 61 10.56535/jmpm.v51i8.2045 KẾT QUẢ PHÔI NANG SỬ DỤNG TINH TRÙNG XUẤT TINH CHẤT LƯỢNG KÉM VÀ TINH TRÙNG TRÍCH XUẤT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2059 Mục tiêu:Đánh giá kết quả phôi của các tinh trùng xuất tinh ít, yếu, dị dạng, được trích xuất từ mào tinh và tinh hoàn.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứumô tả, hồi cứu trên 120 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm có tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (IVF/ICSI), tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh trong 2 năm (2023 - 2024), được chia thành 4 nhóm. Nhóm 1: Tinh trùng xuất tinh ít, yếu, dị dạng (n = 37); nhóm 2: Tinh trùng ít, yếu, dị dạng nặng (n = 33); nhóm 3: Tinh trùng trích xuất từ mào tinh (n = 34); nhóm 4: Tinh trùng từ tinh hoàn (n = 20). Kết quả:Tỷ lệ thụ tinh trong 4 nhóm lần lượt là 85,9%; 74,3%; 79,5%; 81,8%.Tỷ lệ tạo phôi ngày 3 lần lượt là 87,38%; 74,68%; 79,53%; 81,06%.Tỷ lệ tạo phôi nang lần lượt là 61,68%; 44,75%; 53,36%; 55,29%.Tỷ lệ tạo phôi nang tốt lần lượt là 26,1%; 23,72%; 28,14%; 28,23%.Kết luận:Các chu kỳ IVF/ICSI sử dụngtinh trùng trích xuất từ mào tinh và tinh hoàn mang lại kết quả khả quan hơn so với các trường hợp tinh trùng ít, yếu, dị dạng nặng. Nguyễn Thị Liên Hương Nguyễn Trung Đức Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 62 70 10.56535/jmpm.v51i8.2059 NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ LSC (LEAST SIGNIFICANT CHANGE) Ở PHỤ NỮ LOÃNG XƯƠNG SAU MÃN KINH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2050 Mục tiêu: Xác định giá trị LSC và khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến giá trị LSC ở phụ nữ (PN) loãng xương sau mãn kinh.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 61 PN loãng xương sau mãn kinh điều trị tại Khoa Khớp, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. Bệnh nhân (BN) được đo mật độ xương (bone mineral density - BMD) hai lần liên tiếp trong cùng một ngày, dựa trên sai số đo BMD lặp lại, tính ra giá trị LSC theo phương pháp Bland và Altman. Kết quả: Giá trị LSC tại cột sống thắt lưng là 0,02 g/cm² và tại cổ xương đùi là 0,035 g/cm². Tỷ lệ BN có thay đổi BMD vượt ngưỡng LSC không có sự khác biệt theo nhóm tuổi và thời gian mãn kinh (p > 0,05). Tuy nhiên, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa BMI và tỷ lệ thay đổi BMD vượt ngưỡng LSC tại cột sống thắt lưng (p = 0,006), trong khi không ghi nhận mối liên quan tại cổ xương đùi (p = 0,205).Kết luận: Giá trị LSC tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi lần lượt là 0,02 g/cm² và 0,035 g/cm². Giá trị LSC bị ảnh hưởng bởi BMI nhưng không bị ảnh hưởng bởi tuổi và thời gian mãn kinh. Đỗ Chí Bảo Nguyễn Huy Thông Nguyễn Tiến Sơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 71 80 10.56535/jmpm.v51i8.2050 NHẬN XÉT KẾT QUẢ TẠO PHÔI Ở BỆNH NHÂN DỰ ĐOÁN ĐÁP ỨNG BUỒNG TRỨNG CAO ĐIỀU TRỊ THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM ĐƯỢC KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG BẰNG FSH PHỐI HỢP LH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2159 Mục tiêu:Đánh giákết quả tạo phôi sau kích thích buồng trứngbằng follicle-stimulating hormone (FSH) phối hợp luteinizing hormone (LH) ở bệnh nhân (BN) dự đoán đáp ứng buồng trứng cao điều trị thụ tinh ống nghiệm (in vitro fertilization - IVF). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có so sánh trên 120 phụ nữ vô sinh < 36 tuổi, có số lượng nang thứ cấp (antral follicle count - AFC) > 15 nang vào ngày 2 chu kỳ kích trứng, trong đó 60 bệnh nhân (BN) được kích thích buồng trứng bằng FSH đơn thuần (nhóm I) và 60 BN được kích thích buồng trứng bằng FSH phối hợp với LH (nhóm II) tại Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y từ tháng 01 - 12/2025. Kết quả về số lượng và chất lượng noãn, phôi nang được so sánh giữa hai nhóm bằng kiểm định Mann-Whitney U. Kết quả: Không ghi nhận sự khác biệt về số lượng noãn non, noãn thoái hóa, noãn trưởng thành, noãn thụ tinh thu được giữa hai nhóm (p > 0,05). Số phôi nang ở nhóm II cao hơn có ý nghĩa so với nhóm I (5,48 ± 3,70 so với 3,65 ± 2,09; p = 0,01). Kết luận: Bổ sung LH trong kích thích buồng trứng làm IVF ở phụ nữ dự đoán đáp ứng buồng trứng cao có tiềm năng cải thiện kết quả tạo phôi. Nguyễn Ngọc Diệp Đỗ Ngọc Lan Lê Thanh Huyền Quản Vân Trang Nguyễn Linh Chi Trần Trọng Hữu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 81 89 10.56535/jmpm.v51i8.2159 GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG SỚM CỦA THANG ĐIỂM BOS.MA2 Ở BỆNH NHÂN SỐC TIM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2090 Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng tử vong 30 ngày của thang điểm BOS.MA2 ở bệnh nhân (BN) sốc tim. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu, theo dõi dọc trên 70 BN sốc tim tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01/2024 - 02/2026. Thu thập các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điểm BOS.MA2. Phân tích mối liên quan giữa BOS.MA2 và tử vong 30 ngày bằng mô hình hồi quy logistic đa biến và diện tích dưới đường cong ROC (AUC). Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 69,3 ± 17; tỷ lệ nam/nữ ≈ 1,8/1. Điểm BOS.MA2 dao động từ 2 - 6, nhóm nguy cơ trung bình và cao chiếm 92,9%. Điểm BOS.MA2 ở nhóm tử vong cao hơn nhóm sống (4,52 ± 0,62 so với 3,76 ± 1,01; p = 0,001). Điểm BOS.MA2 cao làm tăng tỷ lệ tử vong 30 ngày. Nhóm nguy cơ thấp không có trường hợp tử vong, nhóm nguy cơ trung bình có tỷ lệ tử vong là 42,1%, nhóm nguy cơ cao là 63,0% (p = 0,023). BOS.MA2 là yếu tố tiên lượng độc lập tử vong 30 ngày (OR = 3,11; 95%CI: 1,22 - 7,97; p = 0,018). Thang điểm BOS.MA2 có giá trị tiên lượng mức khá với AUC = 0,709; điểm cắt ≥ 4 có độ nhạy cao trong sàng lọc nguy cơ tử vong. Kết luận: Thang điểm BOS.MA2 có giá trị trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng tử vong 30 ngày ở BN sốc tim. Đặng Việt Đức Nguyễn Thế Hải Nguyễn Duy Toàn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 90 99 10.56535/jmpm.v51i8.2090 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KỸ THUẬT TẠO NÚT DÁN BẰNG MÁU TỰ THÂN TRONG GIẢM TỶ LỆ BIẾN CHỨNG SINH THIẾT PHỔI DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA CẮT LỚP VI TÍNH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1937 Mục tiêu:Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật sử dụng nút dán bằng máu tự thân để giảm tỷ lệ biến chứng trong sinh thiết phổi (STP) dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính (CLVT). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 79 bệnh nhân (BN) có chỉ định STP qua thành ngực được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 9/2024 - 01/2026. Trong đó, 36 BN được STP có sử dụng nút dán bằng máu tự thân (nhóm 1) và 43 BN được STP không sử dụng nút dán (nhóm 2). Kết quả:Đa số là BN cao tuổi, nam giới chiếm 68,35%. Tổn thương trên hình ảnh CLVT ngực thường gặp ở thùy trên phải, với đa số có kích thước < 3cm. Bờ không đều là đặc điểm thường gặp nhất. Số lượng mảnh sinh thiết thu được có trung vị là 3 mảnh. Ung thư biểu mô tuyến gặp nhiều nhất trong các tổn thương ác tính, và viêm lao là tổn thương lành tính hay gặp nhất. Tỷ lệ tràn khí màng phổi (TKMP) ở nhóm 2 là 51,16%, cao hơn không có ý nghĩa thống kê so với nhóm 1 (33,33%), với p > 0,05. TKMP tiến triển sau 24 giờ chỉ gặp ở nhóm 2 (18,6%). Kết luận: Kỹ thuật STP dưới hướng dẫn của CLVT có sử dụng nút dán bằng máu tự thân là kỹ thuật an toàn, đạt hiệu quả chẩn đoán cao, giảm tỷ lệ biến chứng TKMP sau sinh thiết. Nguyễn Đức Huy Đào Ngọc Bằng Tạ Bá Thắng Phạm Thị Kim Nhung Bạch Quốc Tuấn Nguyễn Hoàng Cường Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 100 108 10.56535/jmpm.v51i8.1937 ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CHỨC NĂNG GAN SAU ĐIỀU TRỊ HÓA TẮC MẠCH Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2132 Mục tiêu:Đánh giá sự thay đổi chức năng gan và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) sau điều trị hóa tắc mạch (transarterial chemoembolization - TACE). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc trên 81 BN UTBMTBG được điều trị TACE tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2024 - 4/2026. Các chỉ số chức năng gan (AST, ALT, bilirubin, albumin, INR), phân độ Child-Pugh và ALBI (albumin-bilirubin) được đánh giá trước và sau điều trị 1 tháng. Phân tích mối liên quan giữa sự thay đổi chức năng gan với các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả:Sau 1 tháng điều trị TACE, các chỉ số enzyme gan, bilirubin tăng, trong khi albumin giảm có ý nghĩa so với trước điều trị (p < 0,05). BN có suy giảm chức năng gan (điểm Child-Pugh tăng ≥ 1) chiếm tỷ lệ đáng kể. Sự thay đổi chức năng gan liên quan đến gánh nặng khối u, giai đoạn bệnh và một số chỉ số sinh hóa trước điều trị. Kết luận:TACE ảnh hưởng đáng kể đến chức năng gan trong giai đoạn sớm sau điều trị. Việc đánh giá chức năng gan sau điều trị TACE có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng và lựa chọn định hướng điều trị tiếp theo. Lê Thị Hương Quỳnh Dương Quang Huy Đinh Tiến Đông Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 109 117 10.56535/jmpm.v51i8.2132 PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỒNG ĐỘ BETA-CROSSLAPS HUYẾT TƯƠNG Ở PHỤ NỮ LOÃNG XƯƠNG SAU MÃN KINH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2042 Mục tiêu:Khảo sát nồng độ beta-crosslaps (β-CTX) huyết tương và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng và điều trị ở phụ nữ (PN) loãng xương sau mãn kinh. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 PN loãng xương sau mãn kinh được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 01/2026. Định lượng nồng độ β-CTX huyết tương lúc đói và phân tích mối liên quan với các yếu tố lâm sàng, mật độ xương. Kết quả: Nồng độ β-CTX huyết tương trung vị là 344,25 pg/mL. Nồng độ β-CTX huyết tương ở nhóm từng điều trị bằng bisphosphonate thấp hơn nhóm chưa điều trị (306,90 pg/mL so với 628,00 pg/mL; p = 0,002). Nồng độ β-CTX huyết tương ở nhóm đau lưng cấp tính và bán cấp (≤ 3 tháng) cao hơn nhóm đau lưng mạn tính (> 3 tháng) (754,80 so với 274,20; p < 0,001). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ β-CTX huyết tương giữa các nhóm tuổi và thời gian mãn kinh (p > 0,05). Không ghi nhận mối tương quan giữa nồng độ β-CTX huyết tương với mật độ xương và T-score (p > 0,05). Kết luận: Ở PN loãng xương sau mãn kinh, nồng độ β-CTX huyết tương là 344,25 pg/mL. Nồng độ Β-CTX huyết tương giảm rõ rệt ở nhóm từng được điều trị bằng bisphosphonate và tăng cao ở nhóm đau lưng cấp tính/bán cấp do xẹp mới ở thân đốt sống. Chỉ số này phản ánh động thái tiêu xương cấp diễn hơn là mức độ giảm mật độ xương tích lũy. Trần Thị Phương Thảo Nguyễn Huy Thông Nguyễn Tiến Sơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 118 125 10.56535/jmpm.v51i8.2042 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: NGỘ ĐỘC NÃO DO THUỐC CẢN QUANG SAU CAN THIỆP MẠCH NÃO https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2074 Ngộ độc não do thuốc cản quang (contrast-induced encephalopathy - CIE) sau thủ thuật can thiệp mạch não sử dụng thuốc cản quang (TCQ) iod là biến chứng hiếm gặp (0,3 - 1%), lâm sàng thường mô phỏng đột quỵ cấp. Báo cáo ca lâm sàng này được thực hiện trên bệnh nhân (BN) nữ, 66 tuổi, có túi phình động mạch thông trước kích thước 7 × 4mm, được đặt stent với kỹ thuật chụp mạch số hóa xóa nền (digital subtraction angiography - DSA) với Ultravist 300 (250mL), chức năng thận bình thường. Sau thủ thuật, BN giảm tri giác, liệt nửa người phải, thất ngôn, co giật toàn thể. Cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging - MRI) đa mô thức ghi nhận tăng tín hiệu vỏ não trên chuỗi xung DWI/FLAIR, ADC không hạn chế khuếch tán rõ, SWI không xuất huyết, cộng hưởng từ mạch máu não (magnetic resonance angiography - MRA) không thấy hẹp - tắc các động mạch não nội sọ, tưới máu cân xứng hai bán cầu đại não, gợi ý CIE giả đột quỵ. BN được xử trí hỗ trợ: Bù dịch, corticosteroid, mannitol, chống co giật. Sau điều trị, BN hồi phục hoàn toàn, không có di chứng thần kinh. Do đó, cần nghĩ đến CIE sau DSA dù chức năng thận bình thường; MRI đa mô thức quyết định chẩn đoán phân biệt, tránh can thiệp không cần thiết. Tôn Nữ Trà My Đặng Mạnh Cường Trần Đức Tuấn Bùi Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Long Trương Quang Quý Phan Thị Bé Huệ Hoàng Thị Phương Thảo Lê Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 126 133 10.56535/jmpm.v51i8.2074 NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2077 Mục tiêu: Mô tả thực trạng nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Thanh Nhàn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 1.581 hồ sơ bệnh án của người bệnh (NB) điều trị nội trú tại 4 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Thanh Nhàn, từ tháng 10/2023 - 3/2024. Chẩn đoán NKBV theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế. Kết quả: Tỷ lệ NKBV chung là 6,3%. Viêm phổi bệnh viện chiếm tỷ lệ cao nhất (55,6%), tiếp theo là nhiễm khuẩn tiết niệu và nhiễm khuẩn vết mổ (16,1%), nhiễm khuẩn huyết (12,2%). Căn nguyên vi sinh chính là Acinetobacter baumannii (34%), Klebsiella pneumoniae (24%) và Pseudomonas aeruginosa (10%). Giới tính nữ, mắc bệnh mạn tính, có bệnh kèm theo, thời gian nằm viện ≥ 10 ngày, điều trị tại khoa hồi sức tích cực có nguy cơ NKBV cao hơn. Kết luận: Tỷ lệ NKBV là 6,3%. Các yếu tố liên quan gồm giới tính, bệnh mạn tính, bệnh kèm theo, thời gian điều trị kéo dài và khoa điều trị. Nguyễn Thị Anh Vân Phạm Thùy Trang Vũ Nhị Hà Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 134 142 10.56535/jmpm.v51i8.2077 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP CHUYỂN DẠNG XUẤT HUYẾT TRÊN PHIM CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1785 Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp (NMNC) có chuyển dạng xuất huyết (CDXH) được xác định trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ (CHT). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 54 BN NMNC được chụp CHT tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2023 - 4/2025. Kết quả: Các yếu tố dự báo nguy cơ CDXH gồm rung nhĩ (OR = 6,25; 95%CI: 1,203 - 32,467; p = 0,029); điểm NIHSS (OR = 0,964; 95%CI: 0,964 - 1,268; p = 0,15); bạch cầu neutrophil (OR = 1,037; 95%CI: 0,985 - 1,092; p = 0,163); thể tích vùng nhồi máu (OR = 1,00; 95%CI: 0,987 - 1,013; p = 0,988). Kết luận: Tỷ lệ CDXH thể nhồi máu xuất huyết (hemorrhagic infarction - HI) cao hơn so với thể máu tụ trong nhu mô (parenchymal hematoma - PH). Rung nhĩ là yếu tố liên quan độc lập với CDXH ở BN NMNC. Trần Thị Thuỳ Linh Lê Quốc Sơn Tống Thị Bích Hằng Nguyễn Minh Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 143 151 10.56535/jmpm.v51i8.1785 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 PHÁC ĐỒ ATEZOLIZUMAB KẾT HỢP BEVACIZUMAB TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN QUÁ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT: DỮ LIỆU ĐỜI THỰC ĐƠN TRUNG TÂM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 - 2026 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2085 Mục tiêu:Đánh giá kết quả điều trị phác đồ atezolizumab kết hợp bevacizumab trong điều trị bước 1 trên bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tế bào gan (hepatocellular carcinoma - HCC) quá chỉ định phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu thuần tập hồi cứu kết hợp theo dõi dọc trên 118 BN điều trị bước 1 bằng atezolizumab - bevacizumab tại Bệnh viện K từ tháng 02/2020 - 02/2026. Kết quả:Tuổi trung bình của BN là 57,5; nam giới chiếm 92,4%; tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B (HBV) là 65,3%; tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch cửa và di căn ngoài gan lần lượt là 63,6% và 56,8%. Trung vị thời gian theo dõi là 16 tháng. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) lần lượt là 16,2 tháng và 5,2 tháng. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 65,3% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 67,8%. Có 20,3% BN ghi nhận ít nhất một biến cố bất lợi; tăng men gan và xuất huyết tiêu hóa lần lượt gặp ở 11,0% và 5,1% BN. Kết luận:Phác đồ atezolizumab - bevacizumab cho thấy hiệu quả điều trị khả quan và tính an toàn chấp nhận được trong điều trị bước 1 trên BN HCC quá chỉ định phẫu thuật. Lê Thị Yến Đinh Thị Lan Anh Lê Thị Thảo Nguyễn Xuân Đại Nguyễn Hoàng Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 152 161 10.56535/jmpm.v51i8.2085 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI CÓ ĐAU MẠN TÍNH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2113 Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống (CLCS) ở bệnh nhân (BN) cao tuổi có đau mạn tính. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có nhóm đối chứng trên 240 BN cao tuổi (≥ 60 tuổi) và 188 người < 60 tuổi có đau mạn tính được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 4/2026. CLCS được đánh giá bằng thang điểm SF-36. Kết quả: Tổng điểm SF-36 ở nhóm BN cao tuổi thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm < 60 tuổi. Đa số BN cao tuổi có CLCS mức trung bình (93,75%). Các lĩnh vực suy giảm rõ rệt gồm hoạt động thể chất, hạn chế do sức khỏe thể chất, cảm giác đau, sức khỏe chung và chức năng xã hội. Phân tích đa biến cho thấy mức độ đau, tính chất đau kiểu điện giật và rối loạn lo âu liên quan có ý nghĩa thống kê với CLCS. Kết luận: Đau mạn tính làm suy giảm CLCS ở người cao tuổi, đặc biệt khi đau nặng, có tính chất đau thần kinh và kèm theo lo âu. Đường Minh Tuấn Phạm Đại Quí Nguyễn Quốc Hoàng Nguyễn Quang Ân Nguyễn Đức Thuận Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 162 170 10.56535/jmpm.v51i8.2113 PHÌ ĐẠI TUYẾN CẬN GIÁP TRÊN SIÊU ÂM Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ CÓ NỒNG ĐỘ PTH HUYẾT TƯƠNG CAO TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2177 Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ phì đại tuyến cận giáp (PĐTCG) trên siêu âm và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối được chỉ định lọc máu chu kỳ (LMCK) có nồng độ PTH (parathyroid hormone) huyết tương cao (> 300 pg/mL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, không đối chứng trên 56 BN LMCK, có nồng độ PTH huyết tương > 300 pg/mL, tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 5/2025 - 4/2026. Kết quả: Tỷ lệ PĐTCG ở BN LMCK có nồng độ PTH huyết tương cao là 66,1%, liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố tuổi > 50, nồng độ albumin thấp và nồng độ PTH > 600 pg/mL. Phân tích hồi quy logistic cho thấy nồng độ albumin thấp và PTH cao liên quan độc lập với PĐTCG (OR = 0,765; 95%CI: 0,588 - 0,995; p = 0,046 và OR = 1,002; 95%CI: 1,000 - 1,004; p = 0,018).Kết luận: Tỷ lệ PĐTCG ở BN LMCK có PTH huyết tương cao > 300 pg/mL là 66,1%, liên quan với tuổi cao, nồng độ albumin huyết tương thấp và PTH huyết tương cao. Nguyễn Thị Thu Hà Võ Phạm Anh Kiệt Đặng Minh Hiển Nguyễn Hiệp Hòa Nguyễn Gia Trí Nguyễn Đức Trung Phan Bá Nghĩa Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 171 179 10.56535/jmpm.v51i8.2177 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CERITINIB ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN TIẾN XA, DI CĂN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2032 Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ đáp ứng khách quan (objective response rate - ORR) và thời gian điều trị (time on treatment - ToT) của bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa di căn (TXDC) có đột biến gene Anaplastic Lymphoma Kinase (ALK) với ceritinib bước 1; đánh giá một số tác dụng không mong muốn của thuốc. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập hồi cứu với 41 BN UTPKTBN giai đoạn TXDC mang đột biến gene ALK điều trị bước 1 với ceritinib từ năm 2021 - 2025 tại Bệnh viện Phổi Trung ương (BVPTW). Kết quả: Tuổi trung bình là 52,02 ± 12,09; tỷ lệ nam/nữ là 1,05/1. Tỷ lệ đáp ứng khách quanđạt 90,2%; trong đó ,đáp ứng một phần chiếm tỷ lệ cao nhất (75,6%); ToT trung vị là 28,48 (95%CI: 11,93 - 45,03) tháng. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là tiêu chảy (41,5%); có 27 BN tăng men gan (65,9%); chủ yếu là tăng độ I. Kết luận: Ceritinib điều trị bước 1 với BN UTPKTBN giai đoạn TXDC có đột biến gene ALK cho ORR cao (90,2%), ToT trung vị có giá trị tốt (28,48 tháng), tác dụng phụ thường ở mức độ nhẹ. Đinh Văn Lượng Đinh Ngọc Việt Vũ Thị Thủy Tạ Hùng Mạnh Vũ Ngọc Quyên Nguyễn Trọng Đạt Phương Ngọc Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 180 188 10.56535/jmpm.v51i8.2032 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 BẰNG OSIMERTINIB Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI MẮC UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN MUỘN CÓ ĐỘT BIẾN EGFR https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2086 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độc tính của osimertinib bước 1 ở bệnh nhân (BN) cao tuổi mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn muộn có đột biến EGFR. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 51 BN ≥ 65 tuổi mắc UTPKTBN, giai đoạn IIIC - IV, điều trị bước 1 bằng osimertinib tại Bệnh viện K từ tháng 5/2019 - 5/2025. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 82,4% và kiểm soát bệnh đạt 96,1%. Ở nhóm di căn não, ORR đạt 76,2% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 100%. Trung vị sống thêm không tiến triển (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS) lần lượt là 26,7 tháng và 46,8 tháng; tỷ lệ PFS và OS tại thời điểm 3 năm tương ứng là 45,4% và 76,9%. Không ghi nhận yếu tố tiên lượng độc lập đối với OS trong phân tích đa biến. Độc tính chủ yếu độ 1 - 2, không ghi nhận độc tính độ 3 - 4; 1 trường hợp viêm phổi kẽ độ 1. Kết luận: Osimertinib bước 1 cho thấy hiệu quả cao và dung nạp tốt ở BN cao tuổi UTPKTBN giai đoạn muộn có đột biến EGFR. Đinh Thị Lan Anh Lê Thị Yến Nguyễn Hoàng Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 189 198 10.56535/jmpm.v51i8.2086 SO SÁNH GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG SAU 3 THÁNG CỦA THANG ĐIỂM HELSINKI VÀ ROTTERDAM Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2110 Mục tiêu:So sánh giá trị thang điểm Helsinki và Rotterdam trên phim chụp cắt lớp vi tính (computed tomography - CT) trong tiên lượng tử vong sau 3 tháng ở bệnh nhân (BN) chấn thương sọ não (CTSN) nặng.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, theo dõi dọc trên 110 BN CTSN nặng có điểm Glasgow (GCS) ≤ 8 được điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 6/2025 - 9/2025. Thu thập biến số và tính điểm theo thang điểm Helsinki và Rotterdam. Giá trị tiên lượng được đánh giá bằng đường cong ROC và phân tích Kaplan-Meier.Kết quả:Tuổi trung bình của BN là 44,4 ± 17,2; nam giới chiếm 82,7%. Tổn thương thường gặp nhất là xuất huyết dưới nhện (94,5%). Điểm trung bình của Rotterdam là 3,39 ± 1,6; Helsinki là 5,35 ± 3,5. Diện tích dưới đường cong (AUC) của thang điểm Rotterdam là 0,766 (95%CI: 0,68 - 0,85) và Helsinki là 0,760 (95%CI: 0,67 - 0,84), cho thấy giá trị tương đương. Với điểm cắt ≥ 4, thang điểm Rotterdam có độ đặc hiệu (Sp) cao hơn (77,1%), trong khi thang điểm Helsinki (với điểm cắt ≥ 5) có độ nhạy (Se) cao hơn (72,6%). Phân tích Kaplan-Meier cho thấy cả hai thang điểm đều phân tầng nguy cơ tử vong rõ rệt (p < 0,001); nhóm có điểm cao có tỷ lệ tử vong cao hơn và thời gian sống ngắn hơn.Kết luận:Cả hai thang điểm Helsinki và Rotterdam đều có giá trị tiên lượng tử vong 3 tháng với hiệu năng tương đương. Thang điểm Helsinki trội về Se và khả năng phân tầng nguy cơ, trong khi Rotterdam đơn giản và có Sp cao hơn. Lê Tuấn Vũ Lê Thanh Dũng Nguyễn Đình Minh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 199 207 10.56535/jmpm.v51i8.2110 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT BENTALL Ở BỆNH NHÂN MẮC HỘI CHỨNG MARFAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1999 Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm và trung hạn của phẫu thuật Bentall ở bệnh nhân (BN) mắc hội chứng Marfan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca bệnh, không đối chứng trên 54 BN mắc hội chứng Marfan có phình hoặc tách thành động mạch chủ (ĐMC) kèm hở nặng van ĐMC được phẫu thuật Bentall tại Bệnh viện Trung ương Huế từ năm 2012 - 2022. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 34,2 (18 - 60 tuổi); nam giới chiếm 63,0%; phân độ suy tim trước mổ theo NYHA là 87,0% NYHA II; 13,0% NYHA III. Tổn thương phình ĐMC chiếm 88,9%; tách thành ĐMC chiếm 11,1%. Đường kính gốc ĐMC là 56,3 ± 6,5mm. Có 25,9% BN được thay van hai lá; 27,8% sửa van hai lá; 33,3% sửa van ba lá kết hợp. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (CEC) là 181,1 ± 15,4 phút; thời gian cặp ĐMC là 129,6 ± 14,1 phút. Thời gian thở máy là 19,9 ± 4,5 giờ. Biến chứng ghi nhận rối loạn nhịp tim, tổn thương thận cấp, biến chứng thần kinh lần lượt là 29,6%; 27,8% và 7,4%. Không có BN tử vong trong thời gian theo dõi. Kết luận: Phẫu thuật Bentall ở BN mắc hội chứng Marfan là phẫu thuật an toàn, mang lại kết quả tốt cho BN với tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp. Trần Hoài Ân Nguyễn Đức Dũng Vũ Đức Thắng Phan Quốc Dũng Trần Thanh Thái Nhân Nguyễn Thế Kiên Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 208 217 10.56535/jmpm.v51i8.1999 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIẢM GIAI ĐOẠN BỆNH SAU HÓA XẠ TRỊ TÂN BỔ TRỢ TRƯỚC PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THỰC QUẢN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2054 Mục tiêu: Đánh giá kết quả giảm giai đoạn (GĐ) bệnh sau hóa xạ trị (HXT) tân bổ trợ trước phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt thực quảntrongđiều trị ung thư thực quản (UTTQ) và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 77 bệnh nhân (BN) UTTQ được HXT trước PTNS cắt thực quản tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01/2021 - 4/2026. Kết quả: Tỷ lệ giảm GĐ đạt 61,0% trong khi tỷ lệ không thay đổi và tăng GĐ lần lượt là 31,2% và 7,8%. Có 36,4% BN giảm xuống GĐ 0-I và 23,4% đạt đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (MBH). Tỷ lệ giảm GĐ T và N lần lượt là 70,1% và 54,5%; 57,1% BN đạt ypN0 sau phẫu thuật. Phân tích đơn biến cho thấy vị trí u, MBH và mức độ xâm lấn u trước điều trị có liên quan đến giảm GĐ (p < 0,05). Phân tích đa biến cho thấy u ở 1/3 giữa và mức độ xâm lấn u nông (cT0-2) là các yếu tố độc lập liên quan đến giảm GĐ bệnh sau điều trị (p < 0,05). Kết luận: HXT tân bổ trợ trước PTNS cắt thực quản cho tỷ lệ giảm GĐ cao. Vị trí u và mức độ xâm lấn u trước điều trị có giá trị dự báo giảm GĐ bệnh. Nguyễn Văn Tiệp Nguyễn Trọng Hòe Nguyễn Anh Tuấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 218 225 10.56535/jmpm.v51i8.2054 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC RUỘT THỪA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 GIAI ĐOẠN 2020 - 2025 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2072 Mục tiêu: Đánh giá một số kết quả trong mổ và kết quả sớm điều trị viêm phúc mạc ruột thừa (VPMRT) bằng phẫu thuật nội soi (PTNS). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 105 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định VPMRT điều trị bằng PTNS tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 2020 - 2025. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước mổ, các chỉ tiêu trong phẫu thuật và kết quả sớm sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 43,4 ± 14,5, BN nam chiếm 56,2%, tỷ lệ bệnh lý kèm theo tương đối thấp. Phần lớn các ca phẫu thuật có thời gian < 60 phút (70,2%), tỷ lệ chuyển mổ mở là 0,9%. Biến chứng sớm sau mổ chiếm 7,7%, chủ yếu là nhiễm trùng lỗ trocar (2,8%). Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 6,3 ± 1,8 ngày. Kết quả sớm đạt loại tốt là 92,3%. Kết luận: PTNS là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị VPMRT, thời gian hồi phục nhanh, không gặp tai biến trong mổ, biến chứng sau mổ nhẹ và tỷ lệ thấp. Ngô Gia Khánh Noem Seryboth Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 226 234 10.56535/jmpm.v51i8.2072 KẾT QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA CẮT HỚT NIÊM MẠC DƯỚI NƯỚC SO VỚI CẮT QUY ƯỚC TRONG ĐIỀU TRỊ POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG KHÔNG CUỐNG KÍCH THƯỚC TỪ 10 - 30mm https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2023 Mục tiêu: So sánh hiệu quả và độ an toàn của cắt hớt niêm mạc dưới nước (underwater endoscopic mucosal resection - UEMR) với cắt quy ước (conventional endoscopic mucosal resection - CEMR) trong điều trị polyp đại trực tràng (ĐTT) không cuống kích thước từ 10 - 30mm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên, đối chứng, nhãn mở trên 178 bệnh nhân (BN) có polyp ĐTT không cuống kích thước từ 10 - 30mm, được điều trị bằng UEMR hoặc CEMR tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2024 - 12/2025. Các đặc điểm lâm sàng, nội soi, kỹ thuật và biến chứng được thu thập và so sánh giữa hai nhóm. Kết quả: Tỷ lệ cắt nguyên khối (NK) cao ở cả hai nhóm UEMR và CEMR (96,6% so với 92,1%; p > 0,05). Ở dưới nhóm kích thước polyp từ 20 - 30mm, UEMR cho tỷ lệ cắt NK cao hơn so với CEMR (91,3% so với 62,5%; p = 0,028). UEMR có thời gian thủ thuật ngắn hơn và tỷ lệ sử dụng clip cầm máu thấp hơn so với CEMR (p < 0,05). Tỷ lệ biến chứng thấp và tương đương giữa hai phương pháp. Kết luận: UEMR và CEMR đều là các phương pháp an toàn và hiệu quả trong trong điều trị polyp ĐTT không cuống kích thước từ 10 - 30mm. UEMR có xu hướng cải thiện tỷ lệ cắt NK (đặc biệt trong nhóm polyp có kích thước từ 20 - 30mm), thời gian thủ thuật và giảm nhu cầu sử dụng clip cầm máu, trong khi tỷ lệ biến chứng tương đương giữa hai phương pháp. Hoàng Minh Tuấn Bùi Thị Thanh Nga Dương Quang Huy Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 235 243 10.56535/jmpm.v51i8.2023 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: SỬ DỤNG XƯƠNG VÁCH NGĂN TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VẸO THÁP MŨI NẶNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2058 Vẹo tháp mũi là một thách thức trong phẫu thuật tạo hình mũi, đòi hỏi phẫu thuật viên phải giải quyết triệt để cả khiếm khuyết thẩm mỹ lẫn rối loạn chức năng thông khí. Chúng tôi báo cáo 1 trường hợp bệnh nhân (BN) nam, 26 tuổi, nhập viện vì biến dạng lệch trục tháp mũi và nghẹt mũi bên trái nghiêm trọng do tai nạn thể thao cách đây 14 năm. Qua thăm khám và hình ảnh học, BN được chẩn đoán vẹo tháp mũi trái nặng, vẹo vách ngăn trái và phì đại cuốn mũi dưới hai bên. BN được thực hiện phẫu thuật tạo hình cấu trúc toàn diện với bốn can thiệp đồng thời, gồm cắt chỉnh can xương mũi, tạo hình vách ngăn, nâng sống mũi bằng vật liệu nhân tạo Silastic và chỉnh hình cuốn mũi dưới. Trong đó, xương vách ngăn được sử dụng làm mảnh ghép để tạo hình vách ngăn và ổn định trục tháp mũi.Chiến lược phẫu thuật đa can thiệp giúp phục hồi sự cân xứng thẩm mỹ, cải thiện triệt để chức năng thở và đảm bảo sự ổn định cấu trúc tháp mũi lâu dài. Nguyễn Anh Tuấn Nguyễn Bá Khoa Nguyễn Đức Vượng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 244 251 10.56535/jmpm.v51i8.2058 TIẾP CẬN MỚI QUA ĐƯỜNG CẠNH HẦU TRONG PHẪU THUẬT UNG THƯ KHẨU HẦU https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2117 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả đường mổ cạnh hầu, tình trạng và kết quả bước đầu phẫu thuật ung thư khẩu hầu bằng kỹ thuật tiếp cận qua đường cổ. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả loạt ca bệnh trên 10 bệnh nhân (BN) ung thư khẩu hầu được phẫu thuật qua đường cạnh hầu tại Khoa Ngoại Đầu cổ - Tai mũi họng, Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2021 - 02/2025. Kết quả: BN được phẫu thuật cắt rộng khối bướu khẩu hầu cùng tổ chức xâm lấn có hoặc không tái tạo tức thì bằng vạt da - cơ. Tất cả BN không có biến chứng nặng sau mổ, phục hồi chức năng ăn nuốt tốt sau phẫu thuật, không tái phát. Kết luận: Phẫu thuật ung thư khẩu hầu qua đường cạnh hầu có thể đạt kết quả tốt về mặt chức năng, đồng thời đảm bảo phẫu thuật tận gốc trên BN ung thư khẩu hầu tiến triển hoặc tái phát. Nguyễn Việt Dũng Nguyễn Xuân Trực Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 252 260 10.56535/jmpm.v51i8.2117 KHẢO SÁT LOẠN THỊ GIÁC MẠC THEO NGUYÊN LÝ SWEPT-SOURCE OPTICAL COHERENCE TOMOGRAPHY Ở BỆNH NHÂN ĐỤC THỂ THỦY TINH CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2166 Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm loạn thị giác mạc theo nguyên lý Swept-Source optical coherence tomography (SS-OCT) ở bệnh nhân (BN) đục thể thủy tinh và đánh giá mối liên quan giữa các thành phần loạn thị. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 247 mắt của 208 BN > 60 tuổi tại Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 7/2025 - 3/2026. Đo thông số trực tiếp bằng máy Anterion. Kết quả: Độ loạn thị tổng giác mạc (total corneal astigmatism - TCA) là 1,05 ± 0,74D, cao hơn độ loạn thị mặt trước giác mạc (anterior corneal astigmatism - ACA) là 0,91 ± 0,65D (p < 0,001). Độ loạn thị mặt sau giác mạc (posterior corneal astigmatism - PCA) là 0,29 ± 0,14D và đa số là loại loạn thị nghịch (96,4%), dẫn đến thay đổi độ TCA: Giảm 0,16D ở loạn thị thuận, tăng 0,34D và 0,12D ở loạn thị nghịch và loạn thị chéo; đồng thời, cũng làm thay đổi trục loạn, đặc biệt là nhóm loạn thị thuận và chéo ở mặt trước. Phân tích vector cho thấy loạn thị nghịch chiếm ưu thế ở nhóm đối tượng nghiên cứu (J0 là -0,25) và TCA liên quan chặt chẽ với ACA và liên quan ở mức độ trung bình với PCA. Kết luận: PCA có tác động quan trọng đến công suất TCA. Việc chỉ dựa vào các phép đo ACA sẽ gây sai số cả về độ và trục trong đánh giá loạn thị ở người cao tuổi. Nguyễn Đình Ngân Võ Thị Hằng Trương Hoàng Sơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 261 269 10.56535/jmpm.v51i8.2166 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI VI PHẪU ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ LÀNH TÍNH THANH QUẢN SỬ DỤNG THANG ĐIỂM VHI https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2041 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của bệnh lý lành tính thanh quản (BLLTTQ) và đánh giá kết quả phẫu thuật (PT) nội soi vi phẫu có sử dụng thang điểm VHI (voice handicap index) Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc trên 84 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán BLLTTQ và PT nội soi vi phẫu tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2025 - 02/2026. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và điểm VHI trước mổ, sau mổ 1 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình là 44,13 ± 12,48; 61,9% BN là nữ; 67,8% có nghề nghiệp thường xuyên sử dụng giọng nói. Trước PT, 100% khàn tiếng, phổ biến nhất (81,0%) là khởi phát từ từ, 88,1% từng đợt, 90,5% ở mức độ vừa. Nội soi thanh quản thấy tổn thương chủ yếu khu trú ở 1/3 giữa dây thanh (51,2%) và một bên dây thanh (64,3%). Mô bệnh học thấy polyp dây thanh (33,3%), hạt xơ dây thanh (31,0%) và nang dây thanh (11,9%). Sau mổ 1 tháng, VHI trung bình giảm từ 41,67 xuống 4,17; 77,4% không còn khuyết tật giọng nói. Kết luận: PT nội soi vi phẫu điều trị BLLTTQ có hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kết quả VHI. Quản Thành Nam Phạm Minh Tuấn Đỗ Lan Hương Quản Thị Tâm Nghiêm Đức Thuận Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 270 278 10.56535/jmpm.v51i8.2041 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT RUỘT THỪA VIÊM TẠI VIỆN Y HỌC HẢI QUÂN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1993 Mục tiêu:Mô tả đặc điểm hình thái và đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật điều trị viêm ruột thừa (VRT) cấp tại Viện Y học Hải quân.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 203 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán VRT cấp và được phẫu thuật tại Khoa Ngoại chung - Sản, Viện Y học Hải quân từ tháng 01/2020 - 7/2025.Kết quả:Tuổi trung vị là 35 (24 - 52), nam giới chiếm đa số (65%). Thời gian từ khi khởi phát đến khi nhập viện là 15 (10 - 24) giờ. Phần lớn BN được chẩn đoán VRT cấp chưa biến chứng (95,5%). Thời gian phẫu thuật trung vị là 60 (50 - 90) phút và hồi phục nhu động ruột là 2 (1 - 2) ngày. Biến chứng sau mổ chiếm 3%. Kết quả điều trị sớm tốt đạt 96,1%. Phân tích hồi quy đa biến: Thời gian phẫu thuật kéo dài (OR = 1,042; p = 0,009) và VRT cấp có biến chứng (OR = 19,79; p = 0,025) là các yếu tố liên quan với kết quả điều trị không thuận lợi. Kết luận:VRT cấp chủ yếu gặp ở người trưởng thành và phần lớn được chẩn đoán ở giai đoạn chưa có biến chứng. Phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa là phương pháp được áp dụng chủ yếu trong điều trị VRT cấp tại Viện Y học Hải quân, có tính an toàn, hiệu quả cao, tỷ lệ biến chứng thấp và kết quả điều trị sớm tốt. Nguyễn Văn Quân Lê Thế Hùng Trần Doanh Hiệu Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 279 287 10.56535/jmpm.v51i8.1993 KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT KHỐI TÁ TỤY, PHỤC HỒI LƯU THÔNG DẠ DÀY - HỖNG TRÀNG THEO KIỂU ROUX-EN-Y https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2021 Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy, phục hồi lưu thông dạ dày - hỗng tràng kiểu Roux-En-Y. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 289 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật cắt khối tá tụy, có phục hồi lưu thông tiêu hóa dạ dày - hỗng tràng kiểu Roux-En-Y từ tháng 01/2019 - 9/2024 tại Khoa Phẫu thuật Gan Mật Tụy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 57,8 ± 11,6, độ tuổi 40 - 60 chiếm 76,1%, tỷ lệ nam/nữ là 1,92 (nam giới chiếm 65,7%). Bệnh lý ác tính vùng quanh bóng Vater chiếm 83,1% (12 BN có hoá trị tiền phẫu). Có 19 BN (6,5%) liên quan đến tạo hình mạch máu do khối u xâm lấn. Thời gian phẫu thuật trung bình lần lượt là 204,4 ± 37,3 phút (mổ mở) và 372 ± 45 phút (mổ nội soi). Biến chứng rò tụy: Độ A là 24,2%, độ B là 16,2%, độ C là 4,5%; chậm lưu thông dạ dày ruột: 4,8%, rò mật: 3,5%, nhiễm trùng vết mổ: 4,2%. Thời gian đặt ống dẫn lưu trung bình là 8,4 ± 4,6 ngày. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 12,9 ± 6,5 ngày (dài nhất 22 ngày, ngắn nhất 7 ngày). Kết luận: Phẫu thuật cắt khối tá tụy với miệng nối dạ dày-hỗng tràng kiểu Roux-En-Y an toàn, hiệu quả, biệt lập với miệng nối tụy ruột, giúp BN vẫn duy trì ăn đường miệng khi có biến chứng rò tụy xảy ra. Hồ Văn Linh Vũ Văn Quang Vũ Ngọc Viên Lê Tuấn Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 8 288 298 10.56535/jmpm.v51i8.2021