Tạp chí Y Dược học Quân sự
https://jmpm.vn/index.php/jmpm
<p>Học viện Quân y là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ngành Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng với 3 nhiệm vụ chính trị trung tâm là đào tạo cán bộ quân y các cấp, đội ngũ nhân viên y tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; điều trị và nghiên cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học quân sự; không ngừng phấn đấu với vị trí của một trong những trường đại học y dược hàng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong các lĩnh vực y học quân sự và y học chung của quốc gia và quốc tế.</p> <p>Tạp chí Y Dược học Quân sự là cơ quan ngôn luận thông tin về các hoạt động của Học viện Quân y, trực thuộc Ban Giám đốc Học viện; được cấp Giấy phép hoạt động báo chí số 345/GP-BVHTT ngày 08/8/2002 và xuất bản 02 tháng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn có thể trao đổi với các đồng nghiệp trên toàn thế giới về thành tựu nghiên cứu y học, Tạp chí Y Dược học Quân sự đã đề nghị Tổng cục Chính trị cho phép tạp chí được đưa các bài viết đã đăng tải lên mạng internet và đã được sự đồng ý của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị (theo công văn số 440/VP của Văn phòng Tổng cục ngày 16/5/2005). Đây là bước phát triển quan trọng của Tạp chí Y Dược học Quân sự, tạo điều kiện cho tạp chí được trao đổi với các tạp chí có uy tín trên thế giới. Ngày 21/06/2006, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ngày 6/5/2026, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu tiên cho tới nay, Tạp chí Y Dược Quân sự đã được cấp phép sửa đổi nâng kỳ xuất bản lên 12 số/năm, trong đó có 10 số tiếng Việt và 02 số tiếng Anh (Giấy phép hoạt động báo chí số 1149/GP-BTTTT năm 2012 và số 594/GP-BTTTT năm 2022 và Công văn số 3201/BVHTTDL-BC ngày 03 tháng 6 năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và các số Tạp chí đặc biệt cho các Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm nâng cao chất lượng tạp chí hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp chí đã xây dựng website riêng để xuất bản online và gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi bài báo, đồng thời đã thực hiện phản biện kín 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi bài báo.</p> <p>Tạp chí Y Dược học quân sự luôn nỗ lực khẳng định thương hiệu của mình, đóng góp tích cực phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị. Tạp chí Y Dược học quân sự thực sự trở thành cơ quan ngôn luận về chuyên môn khoa học, đào tạo và điều trị của Học viện Quân y, sát cánh cùng các đơn vị trong đội hình Học viện viết nên những trang vàng thành tích hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện Quân y.</p>Vietnam Military Medical Universityvi-VNTạp chí Y Dược học Quân sự1859-0748ĐẶC ĐIỂM CỦA EXOSOME TIẾT TỪ TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ DÂY RỐN SƠ CẤP
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2027
Mục tiêu: Phân lập và đánh giá exosome (EX) từ tế bào gốc trung mô dây rốn (TBGTMDR) sơ cấp nhằm ứng dụng trong nghiên cứu y học tái tạo. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nuôi cấy 2D TBGTMDR sơ cấp để tiết EX. EX sau đó được phân lập bằng phương pháp siêu ly tâm theo các trường lực khác nhau và đánh giá đặc điểm bằng các phương pháp soi chụp dưới kính hiển vi điện tử truyền qua (transmission electron microscopy - TEM), miễn dịch màng lai (Western Blot), kỹ thuật đo xung điện trở. Kết quả: TBGTMDR nuôi cấy 2D để tiết EX đều có hình thái điển hình giống nguyên bào sợi, biểu hiện dấu ấn sinh học dương tính > 95% và nhóm âm tính < 2%. Hiệu suất tiết đạt trung bình 360,748 ± 59,96µg protein EX/32,267 ± 2,12 × 106 tế bào. EX thu được có đặc điểm: Hình thái chiếc cốc, biểu hiện dấu ấn chỉ thị CD63 và CD9, kích thước trung bình là 79 ± 19,5nm, giá trị mode là 71nm, phân bố từ 55 - 234nm. Điện thế hạt zeta trung bình của EX là -16mV và giá trị mode là -10mV. Kết luận: Phân lập được EX từ TBGTMDR nuôi cấy 2D sơ cấp có đầy đủ đặc điểm điển hình của EX, phù hợp cho các thử nghiệm tiếp theo.Đoàn Thị HợpBùi Khắc CườngThân Thị Trang Uyên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51771510.56535/jmpm.v51i7.2027ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN T VÀ N CỦA UNG THƯ THỰC QUẢN BẰNG CẮT LỚP VI TÍNH NGỰC - BỤNG TRƯỚC PHẪU THUẬT
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1939
Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán giai đoạn T và N của cắt lớp vi tính (CLVT) ngực - bụng trước phẫu thuật ở bệnh nhân (BN) ung thư thực quản (UTTQ) có và không hóa - xạ trị tiền phẫu, đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh (GPB). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 108 BN thực hiện cắt thực quản điều trị UTTQ. Các dấu hiệu CLVT được đối chiếu với kết quả GPB ở 2 nhóm có và không hóa - xạ trị tiền phẫu. Kết quả: Ở nhóm không hóa - xạ trị tiền phẫu, độ dày thành thực quản ≥ 10mm dự đoán pT3 - pT4 với độ nhạy là 72%, độ đặc hiệu là 90%, giá trị tiên đoán dương (PPV) là 72% và giá trị tiên đoán âm (NPV) là 90%. Hẹp lòng thực quản liên quan có ý nghĩa với pT3 - pT4 (p < 0,05). Kích thước hạch ≥ 10mm có độ nhạy thấp (33%) và không liên quan có ý nghĩa với pN(+). Ở nhóm có hóa - xạ trị tiền phẫu, độ nhạy và độ đặc hiệu của độ dày thành thực quản ≥ 10mm giảm còn 63% và 58%. Xâm lấn mỡ quanh thực quản liên quan có ý nghĩa với pT3 - pT4 (p = 0,02). Kích thước hạch ≥ 10mm có độ nhạy hạn chế (50%) và không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: CLVT ngực - bụng trước phẫu thuật có giá trị cao trong chẩn đoán giai đoạn T ở nhóm không hóa - xạ trị tiền phẫu, nhưng còn hạn chế trong chẩn đoán N và ở nhóm có hóa - xạ trị tiền phẫu.Nguyễn Văn TiệpNguyễn Trọng HòeNguyễn Quang Nam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517162410.56535/jmpm.v51i7.1939VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CHUYỂN HÓA ¹⁸F-FDG PET/CT TRONG DỰ ĐOÁN ĐÁP ỨNG HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ THỰC QUẢN GIAI ĐOẠN III
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1991
Mục tiêu:Đánh giá vai trò của một số thông số chuyển hóa 18F-FDG PET/CT trong dự đoán đáp ứng hóa xạ trị đồng thời ở người bệnh (NB) ung thư thực quản (UTTQ) giai đoạn III. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả trên 91 NB UTTQ giai đoạn III được chụp PET/CT trước điều trị hóa xạ trị đồng thời. Đo một số thông số chuyển hóa gồm SUVmax (maximal standard uptake value), MTV (metabolic tumor volume) và TLG (total lesion glycolysis) trên hình ảnh 18F-FDG PET/CT. Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 27.0.Kết quả: Giá trị ngưỡng tối ưu của SUVmax, MTV, TLG để dự đoán đáp ứng hoàn toàn lần lượt là 15,7; 22,9; 257,2. Trong phân tích đơn biến, SUVmax, MTV, TLG đều có giá trị dự báo đáp ứng hoàn toàn sau hóa xạ trị đồng thời với các ngưỡng đưa ra. Trong phân tích đa biến, NB không đáp ứng hoàn toàn có liên quan đáng kể với SUVmax ≥ 15,7 (OR: 4,3; p < 0,05) và TLG ≥ 257,2 (OR: 2,99; p < 0,05) với độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác lần lượt là 80,6%, 58,6%, 73,6% và 64,5%, 72,4%, 67%. Kết luận: Thông số SUVmax và TLG của u nguyên phát trên 18F-FDG PET/CT trước điều trị có thể được sử dụng để dự đoán đáp ứng hoàn toàn sau hóa xạ trị đồng thời ở NB UTTQ giai đoạn III.Mai Thị QuỳnhPhạm Văn TháiPhạm Lâm SơnNguyễn Quang ToànLê Quang HiểnPhạm Thị Thu Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517253410.56535/jmpm.v51i7.1991ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ TƯƠNG HỢP THẤT PHẢI - ĐỘNG MẠCH PHỔI VỚI MỘT SỐ THÔNG SỐ SIÊU ÂM TIM Ở BỆNH NHÂN HẸP VAN HAI LÁ
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1945
Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa chỉ số tương hợp thất phải - động mạch phổi (right ventricular-pulmonary arterial coupling - RVPAC) với một số thông số siêu âm tim cơ bản ở bệnh nhân (BN) hẹp van hai lá (VHL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang, có đối chứng trên 100 đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2022 - 12/2025, được chia thành 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu gồm 58 BN được chẩn đoán hẹp VHL có chỉ định phẫu thuật; nhóm đối chứng gồm 42 đối tượng đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ, không có bệnh lý tim mạch. Kết quả: RVPAC ở nhóm hẹp VHL (0,44 ± 0,20mm/mmHg) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (0,56 ± 0,19mm/mmHg); p < 0,01. Nhóm RVPAC < 0,55 mm/mmHg có đường kính nhĩ trái (left atrial diameter - LAD) và áp lực động mạch phổi thì tâm thu (pulmonary artery systolic pressure - PASP) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm RVPAC ≥ 0,55 mm/mmHg. Nhóm LAD ≥ 55mm có RVPAC thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm LAD < 55mm (0,36 ± 0,13 với 0,48 ± 0,22mm/mmHg, p < 0,05). Chưa nhận thấy sự khác biệt về RVPAC giữa các nhóm phân loại theo đường kính thất trái thì tâm trương (diastolic diameter - Dd): Dd ≥ 50mm với Dd < 50mm và phân suất tống máu thất trái (ejection fraction - EF): EF ≥ 50% với EF < 50% (p > 0,05). Kết luận: RVPAC ở nhóm hẹp VHL thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm đối chứng. RVPAC có liên quan đến một số thông số siêu âm tim như LAD và PASP. Chưa nhận thấy mối liên quan giữa RVPAC với Dd và EF ở BN hẹp VHL.Phạm Vũ Thu HàNguyễn Thế KiênVũ Đức Thắng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517354310.56535/jmpm.v51i7.1945GIÁ TRỊ CỦA ¹⁸F-FDG PET/CT TRONG CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN K
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1983
Mục đích: Đánh giá giá trị của ¹⁸F-FDG PET/CT trong chẩn đoán giai đoạn ở bệnh nhân (BN) ung thư vú (UTV). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 91 BN được chẩn đoán UTV và chụp ¹⁸F-FDG PET/CT trước điều trị tại Bệnh viện K từ tháng 5/2023 - 5/2025. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 53,3 ± 12,03. Giá trị SUVmax trung bình u nguyên phát là 12 ± 6,6. Chỉ số SUVmax tăng dần theo giai đoạn khối u (p < 0,001). Độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính trong chẩn đoán di căn hạch nách tương ứng là 75,5%, 86,2% và 90,2% cao hơn các phương pháp hình ảnh truyền thống (siêu âm, CT, MRI) lần lượt là 67,3%, 75,9% và 82,5%. Di căn hạch nách có liên quan đến SUVmax hạch, kích thước hạch và kích thước u nguyên phát (p < 0,05). Sau khi chụp ¹⁸F-FDG PET/CT, phát hiện thêm 16 BN (17,6%) có tổn thương di căn xa và 30/91 BN (33%) thay đổi giai đoạn. Kết luận: ¹⁸F-FDG PET/CTcó giá trị hỗ trợ quan trọng trong chẩn đoán giai đoạn ở BN UTV.Nguyễn Văn TiếnMai Trọng KhoaBùi Tiến CôngLê Quang HiểnTrần Văn OaiHoàng Công TùngĐặng Duy Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517445110.56535/jmpm.v51i7.1983NGHIÊN CỨU ĐA HÌNH DI TRUYỀN MỘT SỐ TRÌNH TỰ LẶP LẠI NGẮN (STR) LIÊN KẾT GENE PKD1 LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH THẬN ĐA NANG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1886
Mục tiêu:Đánh giá đa hình di truyền của một số trình tự lặp lại ngắn (short repeat sequences - STR) liên kết gene PKD1 liên quan đến bệnh thận đa nang nhằm xác định các STR có tính thông tin cao, phục vụ phân tích liên kết, kiểm soát hiện tượng mất alen (allele-dropout - ADO) và hỗ trợ chẩn đoán - tư vấn di truyền bệnh thận đa nang di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường (autosomal dominant polycystic kidney disease - ADPKD) Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 100 mẫu máu ngoại vi thu thập ngẫu nhiên từ 100 học viên thuộc Hệ 2, Hệ 4, Học viện Quân y từ tháng 6/2025 - 01/2026. Có 7 locus STR liên kết với gene PKD1 (D16S475, D16S3082, D16S283, D16S663, D16S291, D16S3252, D16S521) được phân tích. Kích thước alen được xác định bằng phương pháp điện di mao quản. Kết quả: 7 locus STR liên kết với gene PKD1 ở người Việt Nam có chỉ số dị hợp tử lý thuyết (He) dao động từ 0,42 - 0,89; và chỉ số thông tin đa hình (PIC) từ 0,34 - 0,88. Kết luận: 4 STR gồm D16S475, D16S3082, D16S663 và D16S291 được ghi nhận có tính thông tin cao, cho thấy giá trị ứng dụng thực tiễn trong hỗ trợ chẩn đoán di truyền ADPKD ở người Việt Nam.Nguyễn Hà Hương LyLê Thị Kim DungĐoàn Thị HằngTrần Văn KhoaNguyễn Thị Việt Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517526110.56535/jmpm.v51i7.1886NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI VÀ MỐI LIÊN QUAN CỦA TỶ LỆ LACTATE/ALBUMIN MÁU VỚI MỨC ĐỘ NẶNG Ở BỆNH NHÂN SỐC NHIỄM KHUẨN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2011
Mục tiêu: Khảo sát sự biến đổi và đánh giá mối liên quan giữa tỷ lệ lactate/albumin (LAR) với mức độ nặng và giá trị tiên lượng tử vong ở bệnh nhân (BN) sốc nhiễm khuẩn (SNK). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, quan sát, mô tả theo dõi dọc trên 50 BN chẩn đoán SNK điều trị tại Khoa Hồi sức Nội, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y từ tháng 10/2024 - 11/2025. Đánh giá LAR tại các thời điểm T0 (nhập viện), T1 - T4 (sau 24, 48, 72 giờ và ngày thứ 5 kể từ khi xác thực chẩn đoán SNK). Các mối liên quan được phân tích thông qua kiểm định Mann-Whitney, hệ số Spearman và đường cong ROC. Kết quả: Tuổi trung bình là 69,7 ± 15,4; nam giới chiếm 64%. Nhóm tử vong có điểm SOFA (thang điểm tiên lượng mức độ nặng) tại thời điểm T0 cao hơn nhóm sống (13,6 ± 4,8 so với 10,4 ± 3,2; p < 0,05). LAR cao nhất tại thời điểm T0: 2,121 (1,296 - 3,208) và giảm dần qua các thời điểm nghiên cứu. Nhóm tử vong có LAR cao hơn nhóm sống tại thời điểm T0 - T3 (p < 0,05). LAR tương quan thuận với điểm SOFA (r = 0,369; p < 0,01). Diện tích dưới đường cong (AUC) của LAR từ thời điểm T0 - T3 lần lượt là 0,665; 0,816; 0,715; 0,848, cho thấy giá trị tiên lượng tử vong 7 ngày đều ở mức trung bình đến tốt. Kết luận: LAR cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm tử vong từ thời điểm T0 - T3, tương quan thuận với điểm SOFA và có giá trị tiên lượng tử vong ở BN SNK.Lê Tiến DũngVũ Minh DươngPhạm Thái DũngVõ Ngọc Chánh TínTrịnh Trọng NamNguyễn Châu NamĐặng Trường LợiĐặng Anh ĐứcPhan Tuấn AnhLô Quỳnh Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517627110.56535/jmpm.v51i7.2011NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỒNG ĐỘ cffDNA TRONG THAI KỲ THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2056
Mục tiêu:Đánh giá mối liên quan giữa tuổi mẹ, chỉ số khối cơ thể (BMI) của mẹ, tuổi thai và nồng độ DNA tự do của thai nhi (cell-free fetal DNA - cffDNA) ở thai kỳ thụ tinh trong ống nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 1.000 thai kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro fertilization - IVF) thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn (non-invasive prenatal testing - NIPT) tại Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y từ tháng 01/2023 - 02/2026. Kết quả: Tuổi mẹ trung bình là 30,8 ± 5,1; BMI trung bình là 21,2 ± 2,0 kg/m²; tuổi thai trung bình là 10,8 ± 1,2 tuần. Nồng độ cffDNA trung bình toàn nhóm là 16,2 ± 5,2%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ cffDNA theo nhóm tuổi mẹ (p = 0,577) và BMI của mẹ (p = 0,859). Nồng độ cffDNA tăng dần theo tuổi thai từ 14,9 ± 4,6% ở tuần thứ 9 lên 17,1 ± 5,1% sau tuần thứ 12 (p = 0,005), với hệ số tương quan Pearson r = 0,1701 (p < 0,001). Kết luận: Ở thai kỳ IVF, nồng độ cffDNA tăng khi tuổi thai tăng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tuổi mẹ và BMI của mẹ không liên quan có ý nghĩa thống kê với sự thay đổi nồng độ cffDNA.Trịnh Thế SơnNguyễn Minh Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517728010.56535/jmpm.v51i7.2056NGHIÊN CỨU ĐỘT BIẾN GENE Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ BẰNG GIẢI TRÌNH TỰ GENE THẾ HỆ MỚI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2115
Mục tiêu: Phân tích đặc điểm đột biến gene ở bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 bằng kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới (next-generation sequencing - NGS). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 155 BN UTPKTBN điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2023 - 01/2025. DNA và RNA được tách chiết từ 155 mẫu mô FFPE thu thập từ các BN UTPKTBN, lập thư viện DNA và RNA bằng panel 81 gene và giải trình tự trên thiết bị Ion Torrent. Kết quả: Tỷ lệ phát hiện đột biến gene là 108/155 (69,7%) BN, trong đó, 62/108 (57,4%) BN có 1 đột biến, 37 (34,3%) BN có 2 đột biến và 9 (8,3%) BN có ≥ 3 đột biến. Đột biến EGFR xuất hiện ở 51 (32,9%) BN, KRAS chiếm 22,6%, BRAF chiếm 22,6% và TP53 chiếm 6,5%,các đột biến hiếm như ALK, ERBB2, KIT, ATM, CDKN2A, NRAS, FGFR1-3, RET… gặp tỷ lệ thấp (0,6 - 2,6%). Không gặp đột biến trên gene MET, ROS1, NTRK. Kết luận: 69,7% BN UTPKTBN thường xuất hiện đột biến gene trên lâm sàng. Trong đó, tỷ lệ đơn đột biến chiếm 57,4% và đột biến chiếm 42,6%. Kỹ thuật NGS phát hiện đồng thời nhiều loại biến đổi bộ gene, bao gồm đột biến điểm, mất đoạn, khuếch đại gene và dung hợp gene, trên cả các gene thường gặp (EGFR, KRAS) lẫn các gene đích điều trị hiếm gặp (RET, FGFR1-3, ERBB2), qua đó cung cấp bức tranh phân tử toàn diện trong UTPKTBN.Bạch Quốc TuấnTrần Văn KhoaTriệu Tiến SangNguyễn Văn PhongĐỗ QuyếtTạ Bá ThắngĐào Ngọc BằngTrần Ngọc Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517819010.56535/jmpm.v51i7.2115GIÁ TRỊ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG ĐÁNH GIÁ KÍCH THƯỚC VÀ CHIỀU SÂU XÂM LẤN UNG THƯ LƯỠI DI ĐỘNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1954
Mục tiêu: Đánh giá giá trị của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) trong xác định kích thước khối u và chiều sâu xâm lấn (depth of invasion - DOI) ung thư lưỡi (UTL) di động, đối chiếu với kết quả phẫu thuật và giải phẫu bệnh (GPB). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 38 bệnh nhân (BN) UTL di động được phẫu thuật tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 7/2024 - 4/2025. Kết quả: Chụp CLVT xác định vị trí tổn thương với độ nhạy là 100,0%, độ đặc hiệu là 50,0% và có mức độ đồng thuận đáng kể so với phẫu thuật (Kappa = 0,655). Kích thước khối u đo sau phẫu thuật lớn hơn so với hình ảnh trên phim CLVT (p = 0,049); phân bố nhóm kích thước giữa hai phương pháp khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). DOI trên hình ảnh CLVT cao hơn so với kết quả GPB (p < 0,001); tuy nhiên, sự khác biệt về phân bố DOI theo các nhóm < 5mm, 5 - 10mm và > 10mm chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,224). Tỷ lệ khối u có nhóm DOI > 10mm chiếm 44,7% trên hình ảnh CLVT so với 31,6% trên GPB. Kết luận: Chụp CLVT có giá trị trong đánh giá tiền phẫu UTL di động, đặc biệt trong xác định vị trí tổn thương. Tuy nhiên, khi đối chiếu với kết quả phẫu thuật và GPB, chụp CLVT có xu hướng đánh giá thấp kích thước khối u nhưng lại đánh giá cao DOI.Nguyễn Ngọc VinhNguyễn Thanh ThảoHồ Xuân Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
517919910.56535/jmpm.v51i7.1954DIỄN BIẾN RỐI LOẠN Ý THỨC, HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH SỌ NÃO Ở NGƯỜI BỆNH CHẢY MÁU NÃO NGUYÊN PHÁT TRÊN LỀU ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI CÓ ĐỊNH VỊ THẦN KINH HỖ TRỢ
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2131
Mục tiêu: Mô tả diễn biến rối loạn ý thức, hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não ở người bệnh (NB) chảy máu não nguyên phát (CMNNP) trên lều được điều trị bằng phẫu thuật nội soi (PTNS) có định vị thần kinh hỗ trợ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, không đối chứng trên 51 NB CMNNP trên lều được PTNS có định vị thần kinh hỗ trợ tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2023 - 5/2026. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm thang điểm hôn mê Glasgow (GCS) theo thời gian, thể tích máu tụ, độ di lệch đường giữa trên CLVT. Xử lý số liệu bằng phân tích phương sai đo lặp lại ANOVA, kiểm định Friedman, kiểm định Wilcoxon signed-rank và tương quan Spearman. Kết quả: Điểm GCS thay đổi có ý nghĩa theo thời gian (p < 0,001), giảm trước phẫu thuật và cải thiện dần sau mổ. Thể tích máu tụ và độ di lệch đường giữa tăng trước mổ và giảm rõ rệt có ý nghĩa sau phẫu thuật (p < 0,001). Điểm GCS trước mổ tương quan nghịch với thể tích máu tụ (r = -0,292), độ di lệch đường giữa (r = -0,503). Điểm GCS ra viện tương quan nghịch với độ di lệch đường giữa sau mổ (r = -0,500; p < 0,001). Kết luận: Diễn biến rối loạn ý thức và hình ảnh CLVT sọ não thay đổi có ý nghĩa trong quá trình điều trị. Các chỉ số hình ảnh, đặc biệt là độ di lệch đường giữa, có giá trị trong đánh giá và tiên lượng NB CMNNP trên lều.Trịnh Văn TrungNguyễn Thành BắcĐặng Phúc ĐứcNguyễn Xuân PhươngTrần Anh Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51710010610.56535/jmpm.v51i7.2131MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN MICRORNA-132 HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TRẦM CẢM
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2018
Mục tiêu: Nhận xét giá trị chẩn đoán mức độ biểu hiện microRNA-132 (miR-132) trong huyết tương ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 60 bệnh nhân (BN) người lớn bị rối loạn trầm cảm và 60 người thuộc nhóm chứng. Định lượng mức độ biểu hiện của miR-132 huyết tương bằng phản ứng chuỗi polymerase kỹ thuật số (digital polymerase chain reaction - dPCR). Kết quả: Độ tuổi của BN từ 18 - 60. Mức độ biểu hiện miR-132 huyết tương ở nhóm rối loạn trầm cảm có trung vị cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (0,336 copies/µL so với 0,144 copies/µL; p < 0,001). Nhóm rối loạn trầm cảm có độ phân tán lớn hơn, xuất hiện các giá trị cao bất thường, trong khi nhóm chứng ít phân tán hơn. Mức độ biểu hiện miR-132 huyết tương có giá trị chẩn đoán rối loạn trầm cảm ở mức khá (AUC = 0,72), với độ nhạy là 83,33%, độ đặc hiệu là 58,33%, điểm cắt là 0,192 copies/µL. Ở BN rối loạn trầm cảm mức độ vừa và nặng (theo ICD-10), giai đoạn vừa và nặng (theo ICD-10), mức độ biểu hiện miR-132 huyết tương cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (p < 0,01). Kết luận:Mức độ biểu hiện miR-132 huyết tương có giá trị chẩn đoán rối loạn trầm cảm ở mức khá.Đỗ Xuân TĩnhTrần Lê Nguyệt MinhĐặng Tiến TrườngLê Văn Quân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51710711510.56535/jmpm.v51i7.2018ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA NGHIỆM PHÁP EPLEY Ở NGƯỜI BỆNH CHÓNG MẶT TƯ THẾ KỊCH PHÁT LÀNH TÍNH ỐNG BÁN KHUYÊN SAU
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2111
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị của nghiệm pháp (NP) Epley ở người bệnh (NB) chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (benign paroxysmal positional vertigo - BPPV) ống bán khuyên sau. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, đánh giá trước - sau điều trị trên 36 NB được chẩn đoán BPPV ống bán khuyên sau, điều trị bằng NP Epley tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2025 - 4/2026. Các biến số được mô tả bằng tần số, tỷ lệ phần trăm hoặc trung bình ± độ lệch chuẩn ± SD). So sánh trước và sau điều trị bằng kiểm định tghép cặp hoặc Wilcoxon tùy theo phân bố số liệu. Kết quả: Tuổi trung bình của NB là 58,31 ± 10,64; nữ giới chiếm chủ yếu (91,67%); tổn thương bên phải chiếm ưu thế (72,22%). Sau điều trị, điểm VAS giảm từ 9,56 ± 0,81 xuống 1,53 ± 0,74; điểm VSS-SF tổng giảm từ 49,61 ± 4,71 xuống 11,06 ± 3,26; điểm DHI tổng giảm từ 71,94 ± 11,80 xuống 18,50 ± 3,62; khác biệt đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết luận: NP Epley có hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện triệu chứng và chất lượng cuộc sống ở NB BPPV ống bán khuyên sau.Trần Thị Ngọc TrườngTrần Minh AnhNguyễn Văn Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51711612310.56535/jmpm.v51i7.2111BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ MỘT SỐ CYTOKINE HUYẾT TƯƠNG TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ LAO TIỀM ẨN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2173
Mục tiêu: Đánh giá sự biến đổi nồng độ các cytokine huyết tương (IFN-γ, TNF-α, IL-6, CXCL-10) ở bệnh nhân (BN) bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ (LMCK) có lao tiềm ẩn (LTA) trước và sau 3 tháng điều trị. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc được tiến hành trên 33 BN bệnh thận mạn giai đoạn cuối LMCK có LTA điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2023 - 12/2025. Các cytokine huyết tương được định lượng bằng phương pháp ELISA trước và sau điều trị LTA. BN LTA được điều trị theo phác đồ 3RH và được đánh giá lại sau 3 tháng. Kết quả: Sau 3 tháng điều trị LTA, nồng độ TNF-α và IL-6 có xu hướng giảm so với trước điều trị (lần lượt từ 23,10 xuống 20,80 pg/mL và từ 3,20 xuống 1,41 pg/mL), sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nồng độ IFN-γ và CXCL-10 ít thay đổi sau điều trị. Ở nhóm BN có chuyển đổi QuantiFERON-TB(QFT)từ dương tính sang âm tính, nồng độ TNF-α giảm có ý nghĩa thống kê sau điều trị (từ 18,40 xuống 4,69 pg/mL; p = 0,027). Kết luận: Sau 3 tháng điều trị LTA ở BN LMCK, nồng độ các cytokine (IFN-γ, TNF-α, IL-6, CXCL-10) không thay đổi có ý nghĩa thống kê và nồng độ TNF-α ở nhóm BN có chuyển đổi QFT âm tính giảm có ý nghĩa thống kê.Nguyễn Thanh TùngTạ Bá ThắngPhạm Quốc ToảnNguyễn Ngọc TuấnPhùng Thế HảiNguyễn Hoàng CườngPhan Bá Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51712413210.56535/jmpm.v51i7.2173TỶ LỆ MẮC HỘI CHỨNG NGƯNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ VÀ ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN HÔ HẤP KHI NGỦ Ở NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH NHÓM E
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2010
Mục tiêu:Mô tả tỷ lệ mắc hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (obstructive sleep apnea - OSA) và đặc điểm rối loạn hô hấp khi ngủ qua đo đa ký giấc ngủ ở bệnh nhân (BN) bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease - COPD) nhóm E ổn định. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 60 BN COPD nhóm E, ổn định tại Khoa Nội Hô hấp, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 3/2025 - 01/2026. BN được đánh giá lâm sàng, đo hô hấp ký và đa ký giấc ngủ nguyên đêm. Các chỉ số phân tích bao gồm chỉ số ngưng/giảm thở mỗi giờ (apnea hypopnea index - AHI), chỉ số giảm bão hòa oxy máu (oxygen desaturation index - ODI), nồng độ oxy trong máu (SpO₂) trung bình và thấp nhất, cùng các thông số cấu trúc và hiệu quả giấc ngủ. Kết quả: Tỷ lệ COPD đồng mắc OSA là 53,3%, chủ yếu ở mức độ trung bình - nặng. Nhóm COPD đồng mắc OSA có AHI và ODI cao hơn, SpO₂ thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm COPD đơn thuần. Giảm hiệu quả giấc ngủ được ghi nhận ở 90,0% BN OSA. Kết luận: Đồng mắc OSA gặp phổ biến ở BN COPD nhóm E ổn định và liên quan chặt chẽ đến các rối loạn hô hấp khi ngủ, chất lượng giấc ngủ và giảm oxy máu ban đêm nặng hơn.Nguyễn Hải CôngNguyễn LamBác sĩ Bùi Hồng VũTrịnh Đức Lợi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51713314110.56535/jmpm.v51i7.2010ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỔI TÌNH TRẠNG NGỨA THEO THANG ĐIỂM 5-D Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU CHU KỲ TRƯỚC VÀ SAU CUỘC LỌC HDF-ONLINE
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2061
Mục tiêu: Khảo sát sự biến đổi tình trạng ngứa theo thang điểm 5-D ở người bệnh (NB) lọc máu chu kỳ (LMCK) trước và sau cuộc lọc (online hemodiafiltration - HDF-online). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp trước - sau điều trị, không có nhóm đối chứng trên 74 NB LMCK tại Khoa Thận và Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2025 - 4/2026. Triệu chứng ngứa được đánh giá theo thang điểm 5-D tại thời điểm trước lọc HDF-online, sau lọc 2 tuần và sau lọc 4 tuần. Các xét nghiệm huyết học, sinh hoá được lấy tại thời điểm trước lọc HDF-online. Kết quả:Tỷ lệ ngứa là 83,8%; điểm 5-D trung bình là 11,5 ± 3,94, chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa. Sau lọc HDF-online 2 tuần, các thành phần và tổng điểm 5-D cải thiện rõ rệt nhất; sau 4 tuần, điểm 5-D thấp hơn trước lọc nhưng cao hơn so với sau lọc 2 tuần. Kết luận: Ngứa là triệu chứng phổ biến ở NB LMCK. HDF-online là phương pháp lọc máu cải thiện tình trạng ngứa ở NB LMCK; tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này giảm dần theo thời gian sau lọc.Nguyễn Thị Thu HàPhạm Quốc ToảnNguyễn Thị TrangDiêm Thị Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51714215110.56535/jmpm.v51i7.2061ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÓI CAN THIỆP DỰ PHÒNG VIÊM PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN THỞ MÁY Ở BỆNH NHÂN BỎNG HÔ HẤP
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2053
Mục tiêu: Đánh giá thay đổi kiến thức và kết quả áp dụng gói can thiệp dự phòng viêm phổi liên quan thở máy (ventilator-associated pneumonia - VAP) trên bệnh nhân (BN) bỏng hô hấp (BHH). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (khảo sát kiến thức 28 điều dưỡng - ĐD) và can thiệp so sánh trước - sau có nhóm chứng trên 67 BN BHH thở máy (35 NB nhóm hồi cứu, 32 NB nhóm can thiệp) tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2022 - 6/2024. Nhóm can thiệp được áp dụng gói can thiệp dự phòng 11 thành phần. Kết quả: Ở nhóm hồi cứu, tỷ lệ mắc VAP là 77,14%. Sau tập huấn, tỷ lệ ĐD đạt kiến thức tốt tăng từ 10,71 - 71,43%. Áp dụng gói can thiệp dự phòng làm giảm tỷ lệ mắc VAP xuống 59,38% (p = 0,117) và rút ngắn thời gian thở máy từ 29,0 ± 2,94 xuống còn 14,7 ± 8,96 ngày (p = 0,028). Phân tích hồi quy đa biến khẳng định gói can thiệp dự phòng là yếu tố bảo vệ độc lập (OR = 0,04; p = 0,025), trong khi điểm APACHE II là yếu tố nguy cơ (OR = 3,07; p = 0,002). Kết luận: Chương trình đào tạo đã cải thiện đáng kể kiến thức dự phòng VAP của ĐD. Gói can thiệp dự phòng 11 thành phần không chỉ làm giảm thời gian thở máy mà còn cải thiện xu hướng tử vong trên BN BHH. Để duy trì hiệu quả bền vững, cần tăng cường giám sát, bảo đảm nhân lực và vật tư.Nguyễn Thái Ngọc MinhLê Trung Tơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51715216010.56535/jmpm.v51i7.2053TẮC ĐỘNG MẠCH PERCHERON: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG NHỒI MÁU NÃO KHÓ CHẨN ĐOÁN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1900
Mục tiêu: Báo cáo hai trường hợp tắc động mạch Percheron (Artery of Percheron- AOP) hiếm gặp được chẩn đoán và điều trị tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103, qua đó làm rõ những thách thức trong chẩn đoán, đặc điểm hình ảnh và lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp. Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo ca bệnh thứ nhất: Bệnh nhân (BN) nữ 56 tuổi, nhập viện giờ thứ 4 sau khi khởi phát bệnh, Glasgow 14 điểm, yếu tứ chi nổi bật hơn ở chi trên và phía bên phải (NIHSS 13 điểm). Chụp MRI sọ não thấy nhồi máu đồi thị hai bên. Sau điều trị tiêu huyết khối, tình trạng BN cải thiện rõ rệt, NIHSS còn 3 điểm, mRS 0 điểm sau 72 giờ. Báo cáo ca bệnh thứ hai: BN nam 77 tuổi, nhập viện giờ thứ 9 sau khi khởi phát bệnh, suy giảm ý thức (Glasgow 9 điểm), suy giảm thần kinh nghiêm trọng (NIHSS 32 điểm). Hình ảnh MRI thấy nhồi máu đồi thị và trung não hai bên. Sau điều trị theo phác đồ đột quỵ nhồi máu não tiêu chuẩn, BN cải thiện dần về NIHSS 10 điểm và mRS 3 điểm sau 14 ngày. Cả hai trường hợp đều có hình ảnh CT sọ não ban đầu không phát hiện tổn thương, góp phần gây khó khăn trong chẩn đoán. Kết luận: Tắc AOP là thể đột quỵ hiếm nhưng cần được nhận biết sớm. Chụp MRI, đặc biệt là chuỗi xung khuếch tán (DWI), đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác định.Bùi Văn NămNguyễn Đăng HảiĐỗ Đức AnhTrần Minh TuânNgô Quý LâmĐỗ Thành NamĐỗ Đức Thuần
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51716116910.56535/jmpm.v51i7.1900HIỆU QUẢ GIẢM NỒNG ĐỘ β2-MICROGLOBULIN HUYẾT TƯƠNG SAU CUỘC LỌC HDF-ONLINE Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2114
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của HDF-online (online hemodiafiltration)trong giảm nồng độ β2-microglobulin (β2M) huyết tương ở người bệnh (NB) lọc máu chu kỳ (LMCK). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh trước sau trên 67 NB LMCK tại Khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2025 - 4/2026. Nồng độ β2M huyết tương được định lượng tại thời điểm trước và ngay sau cuộc lọc HDF-online. Kết quả: Nồng độ β2M huyết tương giảm rõ rệt từ trung vị 27,41 mg/L (IQR: 24,98 - 29,51) xuống 10,68 mg/L (IQR: 8,59 - 12,60), mức giảm tuyệt đối trung bình là 16,86 ± 4,54 mg/L và tỷ lệ giảm nồng độ β2M huyết tương trung bình là 60,86 ± 10,44%. Tỷ lệ giảm nồng độ β2M huyết tương cao hơn ở nhóm đạt Kt/V ≥ 1,4, albumin ≥ 38 g/L, còn bảo tồn nước tiểu, không đái tháo đường, thời gian lọc máu < 5 năm. Kết luận: HDF-online có hiệu quả làm giảm rõ rệt nồng độ β2M huyết tương sau một cuộc lọc ở NB LMCK. Tỷ lệ giảm nồng độ β2M huyết tương liên quan với Kt/V, albumin huyết thanh, tình trạng bảo tồn nước tiểu, đái tháo đường và thời gian lọc máu.Nguyễn Văn TuyênNguyễn Thị TrangNguyễn Thị Thu Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51717017810.56535/jmpm.v51i7.2114ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CHẢY MÁU BẰNG THANG ĐIỂM HAS-BLED Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2071
Mục tiêu: Đánh giá nguy cơ chảy máu bằng thang điểm HAS-BLED và xác định mối liên quan giữa thang điểm này với biến chứng chảy máu ở bệnh nhân (BN) lọc máu chu kỳ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, có theo dõi được thực hiện trên 153 BN lọc máu chu kỳ. Nguy cơ chảy máu được đánh giá tại thời điểm ban đầu bằng thang điểm HAS-BLED. BN được theo dõi trong 3 tháng để ghi nhận các biến chứng chảy máu. Phân tích mối liên quan giữa thang điểm HAS-BLED vớibiến chứng chảy máu bằng các phương pháp thống kê phù hợp. Kết quả:Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 58,08 ± 14,05, nam giới chiếm 52,9%. Tỷ lệ tăng huyết áp tâm thu > 160mmHg là 24,18%, tiền sử đột quỵ là 13,07%, tiền sử chảy máu là 3,26%. Phân bố nguy cơ theo thang điểm HAS-BLED cho thấy nhóm nguy cơ thấp, trung bình và cao lần lượt chiếm 47,1%, 29,4% và 23,5%. Trong thời gian nghiên cứu, có ghi nhận 4 trường hợp chảy máu (2,61%); nhóm HAS-BLED ≥ 3 có nguy cơ chảy máu cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm HAS-BLED ≤ 2 (OR = 10,545; 95%CI: 1,062 - 104,759; p = 0,041). Kết luận: Thang điểm HAS-BLED có ý nghĩa trong phân tầng nguy cơ chảy máu ở BN lọc máu chu kỳ. Nhóm nguy cơ cao (HAS-BLED ≥ 3) cần được theo dõi chặt chẽ và kiểm soát các yếu tố nguy cơ nhằm hạn chế biến chứng chảy máu.Võ Duy BằngPhạm Quốc ToảnNguyễn Thị Thu HàPhan Bá Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51717918610.56535/jmpm.v51i7.2071PHÂN BỐ TÁC NHÂN VI SINH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG NHIỄM BẰNG KỸ THUẬT MULTIPLEX REAL-TIME PCR Ở BỆNH NHÂN ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2019
Mục tiêu: Xác định căn nguyên vi sinh trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease - COPD) nhập viện bằng kỹ thuật multiplex real-time PCR (mRT-PCR) trong bối cảnh nuôi cấy đờm còn nhiều hạn chế; từ đó, mô tả sự phân bố các tác nhân vi sinh và phân tích các yếu tố liên quan đến tình trạng đồng nhiễm ở nhóm bệnh nhân (BN) này. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 106 BN đợt cấp COPD có nhiễm trùng hô hấp dưới cấp tính đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ giai đoạn 2024 - 2026. Kết quả: Tỷ lệ phát hiện tác nhân vi sinh dương tính là 92,5%. Các tác nhân vi sinh thường gặp nhất bao gồm Streptococcus pneumoniae (32,1%), Influenza A virus (20,7%), Klebsiella pneumoniae (20,7%) và Escherichia coli (18,9%). Kết luận: Tỷ lệ đồng nhiễm cao (54,7%), chủ yếu là đồng nhiễm vi khuẩn - vi khuẩn và vi khuẩn - virus. Nguy cơ đồng nhiễm tăng cao ở BN có sốt, tiền sử nhập viện trong 3 tháng gần nhất và có sự gia tăng nồng độ CRP.Lâm Chí HùngVõ Phạm Minh ThưPhạm Hùng VânNgô Đình KhánhCao Thị Mỹ Thúy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51718719410.56535/jmpm.v51i7.2019PHÂN BỐ TÁC NHÂN VI SINH VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG NHIỄM Ở BỆNH NHÂN VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG NẶNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1966
Mục tiêu:Xác định tỷ lệ phân bố tác nhân vi sinh và các yếu tố liên quan đến đồng nhiễm ở bệnh nhân (BN) viêm phổi cộng đồng nặng (community-acquired pneumonia - CAP) nặng. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 91 BN CAP nặng điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 12/2024 - 01/2026. Tác nhân vi sinh được xác định bằng kỹ thuật multiplex real-time PCR (mRT-PCR). Kết quả: Nam giới chiếm 61,5%; tuổi trung bình là 72 ± 12,3; trung vị điểm Charlson là 2; đái tháo đường type 2 gặp nhiều nhất (17,5%). Tác nhân Klebsiella pneumoniae là vi khuẩn thường gặp nhất (19.5%), Influenza A virus chiếm 53.8% trong nhóm virus. Tỷ lệ đồng nhiễm là 53,9%, gồm vi khuẩn - vi khuẩn (33%), vi khuẩn - virus (19,8%) và virus - virus (1,1%). Phân tích hồi quy đa biến ghi nhận tiền sử bệnh mạch máu não làm gia tăng nguy cơ đồng nhiễm gấp 4,1 lần (OR = 4,1; 95%CI: 1,02 - 16,49; p = 0,046); điểm Charlson ≥ 3 làm tăng nguy cơ đồng nhiễm gấp 3,47 lần (OR = 3,47; 95%CI: 1,1 - 10,95; p = 0,034). Kết luận:Klebsiella pneumoniae và Influenza A virus là các tác nhân thường gặp nhất. Đồng nhiễm chiếm tỷ lệ cao ở BN CAP nặng, chủ yếu là vi khuẩn - vi khuẩn. Tiền sử bệnh mạch máu não, điểm Charlson ≥ 3 là các yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ đồng nhiễm.Nguyễn Thanh Nhật HàoCao Thị Mỹ ThuýĐỗ Hoàng LongTS Phạm Hùng Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51719520210.56535/jmpm.v51i7.1966SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHOA Y DƯỢC CỔ TRUYỀN, BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÀ RỊA, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2025
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1978
Mục tiêu: Đánh giá sự hài lòng của người bệnh (NB) đang điều trị nội trú tại Khoa Y Dược Cổ truyền (YDCT), Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa, Thành phố (TP) Hồ Chí Minh năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 244 NB đang điều trị nội trú tại địa điểm trên. Kết quả: Tỷ lệ hài lòng về khả năng tiếp cận của NB đạt 98,0%; sự minh bạch thông tin đạt 97,5%; thái độ ứng xử và năng lực nhân viên y tế đạt 97,1%; cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ đạt 95,9%; mức độ hài lòng đối với kết quả điều trị đạt 97,5%. Kết luận: Tỷ lệ hài lòng chung của NB điều trị nội trú tại Khoa YDCT đạt 94,3%. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tiếp tục triển khai các hoạt động cải tiến chất lượng dịch vụ, đặc biệt chú trọng nâng cấp cơ sở vật chất và tăng cường kỹ năng giao tiếp của nhân viên y tế nhằm nâng cao hơn nữa sự hài lòng của NB.Hoàng Thị HàNguyễn Thị Thu HươngTrần Thị Thu Thủy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51720321210.56535/jmpm.v51i7.1978PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ Ở THAI PHỤ MANG THAI LẦN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VĨNH LONG (2024 - 2025)
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2036
Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ đái tháo đường (ĐTĐ) thai kỳ và các yếu tố liên quan ở thai phụ (TP) mang thai lần đầu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 153 TP đến khám tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long trong thời gian từ tháng 3/2024 - 3/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của TP là 25,40 ± 6,01. Ghi nhận có 21 trường hợp (13,7%) ĐTĐ thai kỳ. Các yếu tố gồm TP ≥ 35 tuổi (OR = 3,08; 95%CI: 1,14 - 8,30), béo phì trước khi mang thai (OR = 3,89; 95%CI: 1,49 - 10,17), hút thuốc lá (OR = 2,92; 95%CI: 1,08 - 7,84) và đa ối (OR = 4,21; 95%CI: 1,46 - 12,20) làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ (p < 0,05). Tuy nhiên, khi phân tích hồi quy đa biến, chỉ có đa ối là yếu tố độc lập có ý nghĩa thống kê với OR = 3,27 (95%CI: 1,01 - 10,58) (p < 0,05). Kết luận: TP mang thai lần đầu có tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ là 13,7%. Tuổi TP cao, có béo phì trước mang thai, hút thuốc lá và đa ối là yếu tố được xác định làm tăng nguy cơ xuất hiện ĐTĐ thai kỳ, tuy nhiên chỉ có đa ối là yếu tố độc lập có liên quan.Hồ Thị Thu HằngNguyễn Lư Hoàng Phong
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51721322110.56535/jmpm.v51i7.2036NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VIÊM RUỘT THỪA CẤP CÓ BIẾN CHỨNG Ở BỆNH NHÂN VIÊM RUỘT THỪA CẤP
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1981
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng có giá trị tiên lượng viêm ruột thừa có biến chứng ở bệnh nhân (BN) viêm ruột thừa cấp (VRTC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 246 BN VRTC được phẫu thuật cắt ruột thừa tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 8/2025. Đánh giá mức độ tổn thương giải phẫu bệnh ruột thừa và phân thành hai nhóm: VRTC có biến chứng và không biến chứng. So sánh các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng giữa hai nhóm; phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố có giá trị tiên lượng đối với viêm ruột thừa có biến chứng. Kết quả: Tỷ lệ VRTC có biến chứng là 26,4%. Số lượng bạch cầu (BC), tỷ lệ BC trung tính (%N) và nồng độ CRP (protein C phản ứng) cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có biến chứng. %N và nồng độ CRP là các yếu tố tiên lượng độc lập với VRTC có biến chứng. Mô hình hồi quy logistic kết hợp hai yếu tố này có khả năng phân biệt VRTC có biến chứng mức trung bình với AUC = 0,670 (95%CI: 0,595 - 0,745; p < 0,001). Kết luận: %N và nồng độ CRP có giá trị tiên lượng độc lập đối với VRTC có biến chứng.Trương Đình TiếnNguyễn Văn TiệpBùi Thị Thanh NhậtTrần Trọng ĐứcNguyễn Thái SơnHoàng Tiến ĐạtĐàm Thanh Hoà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51722223010.56535/jmpm.v51i7.1981TỶ LỆ STAPHYLOCOCCUS AUREUS QUẦN CƯ TRÊN NGƯỜI BỆNH PHẪU THUẬT THAY KHỚP TẠI BỆNH VIỆN VINMEC TIMES CITY VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2156
Mục tiêu:Mô tả tỷ lệ Staphylococcus aureus (SA) quần cư trên người bệnh (NB) phẫu thuật thay khớp và xác định yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 337 NB phẫu thuật thay khớp được xét nghiệm sàng lọc SA trước mổ tại Bệnh viện Vinmec Times City từ tháng 6/2022 - 12/2024. Kết quả:Có 337 NB được xét nghiệm sàng lọc ngoáy mũi. Tỷ lệ MRSA (methicillin-resistant SA: kháng methicillin) và MSSA (methicillin-susceptible SA: nhạy methicillin) quần cư tương ứng là 10,1% (34/337 NB) và 0,6% (2/337 NB). Trong phân tích đơn biến, tỷ lệ SA quần cư liên quan đến các yếu tố gồm tuổi ≤ 25 (p = 0,003), chẩn đoán ung thư xương (p = 0,007), nhiễm khuẩn lúc nhập viện (p = 0,018) và tiền sử dùng kháng sinh trong vòng 3 tháng trước nhập viện (p = 0,019). Kết quả phân tích đa biến xác định nhiễm khuẩn lúc nhập viện có liên quan đến tỷ lệ SA quần cư (p = 0,009; OR = 9,84; 95%CI: 1,73 - 54,29). Kết luận: Tỷ lệ MRSA quần cư (10,1%) cao hơn so với MSSA quần cư (0,6%). Nhiễm khuẩn lúc nhập viện là yếu tố nguy cơ liên quan đến tỷ lệ SA quần cư.Lê Thị Thanh ThủyPhan Thị NgaHoàng Ngọc Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51723124010.56535/jmpm.v51i7.2156NHẬN XÉT KẾT CỤC THAI KỲ CỦA SẢN PHỤ TIỀN SẢN GIẬT CÓ THAI TỪ 28 TUẦN TRỞ LÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2070
Mục tiêu: Nhận xét kết cục thai kỳ của sản phụ tiền sản giật (TSG) có thai ≥ 28 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 83 sản phụ TSG được chẩn đoán và điều trị nội trú từ tuần thứ 28 của thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 01/2024 - 9/2025. Kết quả: Tỷ lệ TSG tiến triển nặng chiếm 49,4%, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi thai < 34 tuần (30,1%). Nhóm TSG có tiến triển nặng phải nhập viện sớm hơn (31,43 tuần), thời điểm chấm dứt thai kỳ sớm hơn (32,5 tuần) so với nhóm TSG không tiến triển nặng (p < 0,05). Mổ lấy thai là phương pháp kết thúc thai kỳ phổ biến nhất trong các trường hợp TSG (96,4%). Kết cục sơ sinh ở nhóm TSG có tiến triển nặng kém hơn nhóm TSG không tiến triển nặng với cân nặng sơ sinh thấp hơn (1.300g với 2.500g), chỉ số Apgar sau sinh 1 phút < 7 điểm cao hơn (30,4% so với 0%), tỷ lệ cần hồi sức sơ sinh cao hơn (67,9% so với 11,1%), tỷ lệ điều trị tại Khoa Sơ sinh cao hơn (78,6% so với 7,4%); p < 0,05. Kết luận: TSG tiến triển nặng chiếm tỷ lệ cao (49,4%), thường gặp ở thai < 34 tuần, phải chấm dứt thai kỳ sớm hơn, có kết cục sơ sinh kém hơn so với nhóm TSG không tiến triển nặng.Phan Thị Huyền ThươngĐỗ Tuấn Đạt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51724124910.56535/jmpm.v51i7.2070KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ U THÂN ĐUÔI TỤY TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2002
Mục tiêu:Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị u thân đuôi tụy.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả trên 31 bệnh nhân (BN) được PTNS điều trị u thân đuôi tụy tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01/2019 - 10/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 48,65 ± 19,17, nam giới chiếm 38,71%, nữ giới chiếm 61,29%. Tỷ lệ phẫu thuật cắt thân đuôi tụy kèm cắt lách là 25,81%; cắt thân đuôi tụy bảo tồn lách là 74,19%. Thời gian mổ trung bình là 138,35 ± 35,40 phút; lượng máu mất trung bình là 122,26 ± 208,66mL. Biến chứng sau mổ gặp ở 25,81% trường hợp, trong đó chủ yếu là rò tụy. Không có BN tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ. Thời gian trung tiện trung bình là 1,74 ± 0,73 ngày; thời gian nằm viện sau mổ là 9,61 ± 4,98 ngày. Kết luận: PTNS cắt thân đuôi tụy là phương pháp an toàn và khả thi để điều trị u thân đuôi tụy, tỷ lệ biến chứng chấp nhận được, thời gian hồi phục nhanh.Hồ Văn LinhPhan Quốc ĐạtHồ Chí Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51725025810.56535/jmpm.v51i7.2002NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐẶT SHUNT DẪN LƯU MÀNG PHỔI - BUỒNG ỐI CHO THAI NHI TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2057
Mục tiêu: Nhận xét kết quả đặt shunt dẫn lưu màng phổi - buồng ối trong điều trị tràn dịch màng phổi thai nhi tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca bệnh được thực hiện trên 11 thai phụ có thai nhi tràn dịch màng phổi và được đặt shunt dẫn lưu màng phổi - buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 5/2025 - 3/2026. Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm đặt shunt dẫn lưu là 29,08 ± 2,81 tuần. Tràn dịch màng phổi hai bên chiếm 72,7%; phù thai 72,7% và đa ối 90,9%. Đặt shunt một bên chiếm đến 81,8% và 27,3% trường hợp cần đặt lại shunt. Không ghi nhận tai biến trong phẫu thuật. Sau can thiệp, kích thước dịch màng phổi giảm có ý nghĩa thống kê từ 47,25 ± 14,33mm xuống 16,31 ± 14,04mm (p < 0,05). 100% trường hợp có phù thai ghi nhận giảm hoặc hết phù. Thời gian kéo dài thai kỳ trung bình là 5,64 ± 3,14 tuần; tuổi thai khi sinh trung bình là 34,58 ± 1,71 tuần. Kết luận: Đặt shunt dẫn lưu màng phổi - buồng ối là phương pháp can thiệp trước sinh an toàn và hiệu quả trong điều trị tràn dịch màng phổi thai nhi, giúp giảm nhanh lượng dịch, cải thiện tình trạng phù thai và kéo dài thai kỳ, góp phần cải thiện tiên lượng chu sinh.Đỗ Tuấn ĐạtPhan Thị Huyền ThươngMai Trọng Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51725926710.56535/jmpm.v51i7.2057MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG SAU PHẪU THUẬT GHÉP SỌ Ở BỆNH NHÂN KHUYẾT SỌ SAU MỞ SỌ GIẢM ÁP TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2025
Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố liên quan đến biến chứng sau phẫu thuật ghép sọ ở bệnh nhân (BN) khuyết sọ sau mở sọ giảm áp (MSGA) tại Bệnh viện Quân y 103. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 70 BN khuyết sọ sau phẫu thuật MSGA được ghép sọ tại Khoa Phẫu thuật Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2023 - 02/2025. Kết quả: Tỷ lệ biến chứng sau ghép sọ là 11,4%. Thời gian từ MSGA đến ghép sọ có mối liên quan với biến chứng sau mổ (p < 0,001). Diện tích ổ khuyết sọ lớn (> 75cm²) liên quan đến tỷ lệ biến chứng cao hơn (p = 0,047). Các yếu tố khác bao gồm tuổi, giới tính, nguyên nhân mở sọ, tiền sử bệnh lý, điểm Glasgow trước mổ, hình thái và vị trí ổ khuyết sọ chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với biến chứng hậu phẫu. Kết luận: Thời gian từ MSGA đến ghép sọ và diện tích ổ khuyết sọ là các yếu tố liên quan đến tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ghép sọ.Trần Anh ĐứcNguyễn Thành Bắc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51726827610.56535/jmpm.v51i7.2025KẾT QUẢ DẪN LƯU TÚI MẬT QUA DA DƯỚI SIÊU ÂM ĐIỀU TRỊ VIÊM TÚI MẬT CẤP DO SỎI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2060
Mục tiêu: Đánh giá kết quả dẫn lưu túi mật qua da (DLTMQD) dưới siêu âm điều trị viêm túi mật cấp (VTMC) do sỏi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả trên78 bệnh nhân (BN) VTMC do sỏi mật, được DLTMQD dưới siêu âm tại Bệnh viện Quân y 103 từ ngày 01/01/2021 - 30/6/2025. Kết quả: 78,2% BN được vô cảm gây tê tại chỗ kết hợp giảm đau toàn thân, 51,3% BN có vị trí dẫn lưu phần lớn ở khoang gian sườn VII đường nách trước. Dụng cụ dẫn lưu là catheter chiếm 74,4%, pigtail chiếm 25,6%, thời gian dẫn lưu trung bình là 23,1 phút. Không có tai biến trong thực hiện thủ thuật, biến chứng tuột ống dẫn lưu chiếm 5,1%. Kết quả dẫn lưu: Tốt (93,6%); trung bình (5,1%) và kém (1,3%). Kết luận:DLTMQD dưới siêu âm điều trị VTMC là phương pháp an toàn, không có tai biến, tỷ lệ biến chứng ở mức chấp nhận được. Nên thực hiện DLTMQD ở những BN VTMC nặng, tuổi cao, có nhiều nguy cơ và gặp khó khăn trong phẫu thuật cắt túi mật cấp cứu.Nguyễn Quang NamSroy OdomHồ Chí Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51727728610.56535/jmpm.v51i7.2060