Tạp chí Y Dược học Quân sự https://jmpm.vn/index.php/jmpm <p>Học viện Qu&acirc;n y l&agrave; cơ sở đ&agrave;o tạo đại học, sau đại học ng&agrave;nh Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc ph&ograve;ng với 3 nhiệm vụ ch&iacute;nh trị trung t&acirc;m l&agrave; đ&agrave;o tạo c&aacute;n bộ qu&acirc;n y c&aacute;c cấp, đội ngũ nh&acirc;n vi&ecirc;n y tế phục vụ sự nghiệp c&ocirc;ng nghiệp h&oacute;a, hiện đại h&oacute;a đất nước; điều trị v&agrave; nghi&ecirc;n cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học qu&acirc;n sự; kh&ocirc;ng ngừng phấn đấu với vị tr&iacute; của một trong những trường đại học y dược h&agrave;ng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở th&agrave;nh trung t&acirc;m đ&agrave;o tạo nh&acirc;n lực, nghi&ecirc;n cứu khoa học, ph&aacute;t triển v&agrave; ứng dụng c&aacute;c kỹ thuật ti&ecirc;n tiến trong c&aacute;c lĩnh vực y học qu&acirc;n sự v&agrave; y học chung của quốc gia v&agrave; quốc tế.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự l&agrave; cơ quan ng&ocirc;n luận th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Học viện Qu&acirc;n y, trực thuộc Ban Gi&aacute;m đốc Học viện; được cấp Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 345/GP-BVHTT ng&agrave;y 08/8/2002 v&agrave; xuất bản 02 th&aacute;ng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn c&oacute; thể trao đổi với c&aacute;c đồng nghiệp tr&ecirc;n to&agrave;n thế giới về th&agrave;nh tựu nghi&ecirc;n cứu y học, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự đ&atilde; đề nghị Tổng cục Ch&iacute;nh trị cho ph&eacute;p tạp ch&iacute; được đưa c&aacute;c b&agrave;i viết đ&atilde; đăng tải l&ecirc;n mạng internet v&agrave; đ&atilde; được sự đồng &yacute; của Thủ trưởng Tổng cục Ch&iacute;nh trị (theo c&ocirc;ng văn số 440/VP của Văn ph&ograve;ng Tổng cục ng&agrave;y 16/5/2005). Đ&acirc;y l&agrave; bước ph&aacute;t triển quan trọng của Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự, tạo điều kiện cho tạp ch&iacute; được trao đổi với c&aacute;c tạp ch&iacute; c&oacute; uy t&iacute;n tr&ecirc;n thế giới. Ng&agrave;y 21/06/2006, Tạp ch&iacute; Y Dược học Qu&acirc;n sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu ti&ecirc;n cho tới nay, Tạp ch&iacute; Y Dược Qu&acirc;n sự đ&atilde; được cấp ph&eacute;p sửa đổi n&acirc;ng kỳ xuất bản l&ecirc;n 9 số/năm (Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 1149/GP-BTTTT năm 2012 v&agrave; số 594/GP-BTTTT năm 2022) v&agrave; c&aacute;c số Tạp ch&iacute; đặc biệt cho c&aacute;c Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm n&acirc;ng cao chất lượng tạp ch&iacute; hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp ch&iacute; đ&atilde; x&acirc;y dựng website ri&ecirc;ng để xuất bản online v&agrave; gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o, đồng thời đ&atilde; thực hiện phản biện k&iacute;n 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi b&agrave;i b&aacute;o.</p> <p>Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự lu&ocirc;n nỗ lực khẳng định thương hiệu của m&igrave;nh, đ&oacute;ng g&oacute;p t&iacute;ch cực phục vụ c&ocirc;ng t&aacute;c đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; điều trị. Tạp ch&iacute; Y Dược học qu&acirc;n sự thực sự trở th&agrave;nh cơ quan ng&ocirc;n luận về chuy&ecirc;n m&ocirc;n khoa học, đ&agrave;o tạo v&agrave; điều trị của Học viện Qu&acirc;n y, s&aacute;t c&aacute;nh c&ugrave;ng c&aacute;c đơn vị trong đội h&igrave;nh Học viện viết n&ecirc;n những trang v&agrave;ng th&agrave;nh t&iacute;ch hơn 70 năm x&acirc;y dựng v&agrave; trưởng th&agrave;nh của Học viện Qu&acirc;n y.</p> Vietnam Military Medical University vi-VN Tạp chí Y Dược học Quân sự 1859-0748 ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA, KHÁNG VIÊM IN VITRO CỦA CAO CHIẾT LÁ SACHI (PLUKENETIA VOLUBILIS L.) TRỒNG TẠI VIỆT NAM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1841 Mục tiêu: Khảo sát sơ bộ thành phần hóa học và đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa, kháng viêm in vitro của các cao chiết từ lá Sachi (Plukenetia volubilis L.) trồng tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Nguyên liệu được kiểm tra chất lượng theo Dược điển Việt Nam V, sàng lọc hóa học theo Ciulei và chiết siêu âm có gia nhiệt với ethanol 96%, ethanol 50% và nước. Hàm lượng polyphenol và flavonoid toàn phần được xác định bằng Folin-Ciocalteu và tạo phức AlCl₃; hoạt tính kháng oxy hóa đánh giá bằng DPPH và ABTS, hoạt tính kháng viêm bằng phép thử ức chế biến tính albumin. Kết quả: Cao ethanol 50% có hàm lượng polyphenol (65,23 ± 6,48mg GAE/g) và flavonoid (20,97 ± 2,50mg RE/g cao khô) cao nhất, đồng thời thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh (IC₅₀ DPPH: 161,07 ± 8,69 µg/mL; ABTS: 54,31 ± 3,59 µg/mL). Cao ethanol 96% cho hoạt tính kháng viêm nổi bật (IC₅₀ 21,34 ± 2,12 µg/mL). Kết luận: Lá Sachi có tiềm năng sinh học đáng kể và là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Hoàng Quốc Tuấn Võ Nguyễn Tuyết Trinh Lê Minh Nhân Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 7 14 10.56535/jmpm.v51i3.1841 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA DUNG DỊCH MAFENIDE ACETATE 2,5% TRÊN VẾT THƯƠNG BỎNG THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1394 Mục tiêu: Đánh giá tác dụng liền vết thương của dung dịch mafenide acetate (MA) 2,5% do Đại học Dược Hà Nội (DHN) sản xuất (MA2,5-A) trên vết thương bỏng thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 60 thỏ khỏe mạnh được gây bỏng thực nghiệm, chia làm 6 nhóm (nhóm sử dụng MA2,5-A, nhóm sử dụng dung dịch MA 2,5% do Hoa Kỳ sản xuất (MA2,5-B), nhóm sử dụng nước muối sinh lý 0,9% (NA), nhóm sử dụng dung dịch MA 5% do DHN sản xuất (MA5-A), nhóm sử dụng dung dịch MA 5% do Hoa Kỳ sản xuất (MA5-B) và nhóm sử dụng dung dịch berberin 0,1% (BE)). Kết quả: Số mẫu mọc vi khuẩn của nhóm MA2,5-A không có sự khác biệt với nhóm MA2,5-B và MA5-A ở các thời điểm (p > 0,05), thấp hơn đáng kể so với nhóm MA5-B, NA và BE tại ngày 7 (N7) và ngày 14 (N14) (p < 0,05). Thời gian liền vết thương ở nhóm MA2,5-A ngắn hơn có ý nghĩa so với nhóm NA và nhóm BE (p < 0,01), không có sự khác biệt với MA2,5-B, MA5-A và nhóm MA5-B (p > 0,05). Kết luận: Thời gian liền vết thương ở nhóm MA2,5-A tương đương với nhóm MA2,5-B, MA5-A và MA5-B. ThS Lê Quốc Vương GS, TS Nguyễn Như Lâm PGS. TS Lê Đức Mẫn TS Trần Đình Hùng Ngô Tuấn Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 15 23 10.56535/jmpm.v51i3.1394 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU VÀ TÁC DỤNG PHỤ CỦA ESTROGEN DẠNG UỐNG VÀ DẠNG BÔI NGOÀI DA TRONG CHU KỲ CHUYỂN PHÔI ĐÔNG LẠNH https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1761 Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi một số chỉ số lipid máu và tác dụng phụ khi sử dụng estrogen dạng uống và dạng bôi ngoài da trong chuẩn bị niêm mạc tử cung (NMTC) cho chu kỳ chuyển phôi đông lạnh (CPĐL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, so sánh trên 48 bệnh nhân (BN) thực hiện CPĐL tại Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội từ năm 2022 - 2023. BN được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: Nhóm sử dụng estradiol valerate dạng uống (Progynova) và nhóm sử dụng 17β-estradiol dạng gel bôi ngoài da (Oestrogel). Các chỉ số lipid máu như cholesterol toàn phần (TC), high-density lipoprotein cholesterol (HDL-C), low-density lipoprotein cholesterol (LDL-C) và triglyceride (TG) được đo trước và sau 10 - 12 ngày dùng thuốc; đồng thời, ghi nhận tác dụng phụ và kết quả lâm sàng. Kết quả: Nhóm sử dụng estrogen dạng uống có tăng TC (từ 5,02 ± 0,71 lên 5,26 ± 0,74 mmol/L; p < 0,05) và TG (từ 1,38 ± 0,35 lên 1,52 ± 0,41 mmol/L; p < 0,05), trong khi nhóm sử dụng estrogen dạng bôi ngoài da không thay đổi có ý nghĩa (p > 0,05). Tác dụng phụ nhẹ gặp ở 16,6% nhóm estrogen dạng uống và 8,3% nhóm estrogen dạng bôi ngoài da. Độ dày NMTC (9,7 ± 0,9 và 9,6 ± 0,8mm) và tỷ lệ β-hCG dương tính (59,1% và 56,0%) tương đương giữa hai nhóm (p > 0,05). Kết luận:Dạng estrogen bôi ngoài da đạt hiệu quả chuẩn bị NMTC tương đương dạng estrogen uống nhưng ít ảnh hưởng đến chuyển hóa lipid máu và gây ít tác dụng phụ hơn. TS Đinh Trọng Hà Phạm Thị Nguyệt PGS,TS Trịnh Thế Sơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 24 31 10.56535/jmpm.v51i3.1761 NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI GIẢI PHẪU CỦA XƯƠNG GÓT VÀ KHỚP SÊN - GÓT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH TRÊN PHIM CẮT LỚP VI TÍNH DỰNG HÌNH 3D https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1875 Mục tiêu: Mô tả hình thái giải phẫu xương gót và khớp sên - gót trên phim cắt lớp vi tính dựng hình ba chiều (CLVT 3D) ở người Việt Nam trưởng thành. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, không nhóm chứng được thực hiện trên 139 phim CLVT 3D xương gót bình thường của người trưởng thành, với tuổi trung bình là 39,50 ± 12,95 tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 01/2022 - 6/2025. Mô hình 3D xương gót được phân tách từ dữ liệu CLVT vùng cổ - bàn chân nhằm quan sát hình thái các diện khớp sên - gót và đo các chỉ số kích thước giải phẫu của xương gót, bao gồm góc Böhler và góc Gissane. Kết quả: Diện khớp sên - gót loại I chiếm cao nhất (46,04%), tiếp theo là loại IV (25,90%), loại III (17,27%) và loại II (10,79%). Không ghi nhận trường hợp nào thuộc loại V. Các kích thước giải phẫu của xương gót ở nam giới lớn hơn nữ giới. Giá trị trung bình của góc Böhler và góc Gissane lần lượt là 32,39 ± 5,39° và 124,40 ± 9,75°. Kết luận: CLVT 3D có giá trị cao trong nghiên cứu giải phẫu xương gót và khớp sên - gót. Hình thái và kích thước xương gót ở người Việt Nam trưởng thành tương đồng với các chủng tộc châu Á nhưng có sự khác biệt so với chủng tộc châu Âu. Lê Tuấn Dũng PGS Võ Thành Toàn TS Phạm Ngọc Thắng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 32 40 10.56535/jmpm.v51i3.1875 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TỬ MỘT TIỀN NHÂN NUÔI CẤY BẰNG TỦ THEO DÕI PHÔI LIÊN TỤC https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1815 Mục tiêu: So sánh tỷ lệ tạo phôi, phôi phân chia và chất lượng phôi giữa hợp tử 1 tiền nhân (pronuclear - PN) và 2PN thụ tinh bằng tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) và nuôi cấy trong tủ theo dõi phôi liên tục (time-lapse). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu trên 126 hợp tử 1PN và 898 hợp tử 2PN thu được từ 110 cặp vợ chồng thực hiện thụ tinh ống nghiệm (chu kỳ ICSI) tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội từ tháng 5/2022 - 9/2024. Kết quả:Tỷ lệ tạo phôi ngày 3 của các hợp tử 1PN là 88,9%, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 2PN (98,9%), p < 0,001. Tỷ lệ phôi ngày 3 tốt ở nhóm 1PN là 31,3%, thấp hơn rõ rệt so với nhóm 2PN (58,9%), p < 0,001. Tỷ lệ tạo phôi nang ở nhóm 1PN cũng thấp hơn đáng kể so với nhóm 2PN (21,4% so với 67,1%; p < 0,001). Chất lượng phôi nang giữa hai nhóm là tương đương, với tỷ lệ phôi nang tốt lần lượt là 50% ở nhóm 1PN và 52,2% ở nhóm 2PN. Kết luận:Các hợp tử 1PN có tỷ lệ phân chia và tạo phôi nang thấp hơn so với các hợp tử 2PN. Tuy nhiên, nếu phát triển đến phôi nang, hợp tử 1PN vẫn có thể tạo phôi nang chất lượng tốt. Nguyễn Thị Liên Hương Lê Hoàng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 41 47 10.56535/jmpm.v51i3.1815 ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH LÊN CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CƠ QUAN CỦA NẸP VÍT ZK60 PHỦ HYDROXYAPATITE TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1702 Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng từ độc tính của nẹp vít ZK60 phủ lớp hydroxyapatite (HA) lên cấu trúc và chức năng của gan, thận, não trên động vật thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có đối chứng được thực hiện trên 84 thỏ trắng thuần chủng, khỏe mạnh. Thỏ được chia ngẫu nhiên trên file Excel thành 3 nhóm: Nhóm 1 (n = 28) cấy nẹp vít Mg ZK60 phủ HA; nhóm 2 (n = 28) cấy nẹp vít ZK60 không phủ HA; nhóm 3 (n = 28) cấy nẹp vít titan. Thỏ ở các nhóm được cấy nẹp vít vào xương đùi, được gây mô hình khuyết xương. Ở thời điểm trước phẫu thuật và 3, 7, 30, 60, 90 ngày và 180 ngày sau phẫu thuật, lấy máu đánh giá chức năng gan, thận. Ở các thời điểm sau phẫu thuật, gây mê và phẫu thuật lấy gan, thận, não để đánh giá hình thái cấu trúc trên 7 thỏ ở mỗi nhóm. Kết quả: Các chỉ số đánh giá chức năng gan và thận nằm trong giới hạn bình thường. Cấu trúc, não, thận, gan bình thường ở tất cả các nhóm nghiên cứu. Kết luận: Nẹp vít ZK60 phủ HA cũng như không phủ HA và nẹp vít titan đều không ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của một số cơ quan như gan, thận, não trên động vật thực nghiệm. Lê Văn Hải TS Nguyễn Văn Ninh Hoàng Tuấn Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 48 55 10.56535/jmpm.v51i3.1702 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC CỨU CHỮA THƯƠNG BINH BỎNG: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU TẠI BỆNH VIỆN BỎNG QUỐC GIA LÊ HỮU TRÁC (2021 - 2025) https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1870 Mục tiêu: Phân tích đặc điểm dịch tễ lâm sàng bỏng ở quân nhân (QN) thời bình giai đoạn 2021 - 2025, so sánh với mô hình bỏng chiến tranh hiện đại và đề xuất định hướng quân y. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 174 hồ sơ bệnh án QN điều trị nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ ngày 01/01/2021 - 31/12/2025. Kết quả: Quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) chiếm tỷ lệ cao nhất (33,9%). Nguyên nhân hàng đầu là bỏng nhiệt (lửa 39%; nước sôi 25,7%). Tỷ lệ bỏng lửa ở nhóm Hạ sĩ quan - Binh sĩ (HSQ-BS) là 54,3%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm Sĩ quan (SQ) (p < 0,05). 100% ca bỏng điện và hóa chất là bỏng sâu. Trong nhóm bỏng cấp tính, tỷ lệ khỏi đạt 98,1%, tử vong là 1,9%. Kết luận: Mô hình bỏng quân sự thời bình chủ yếu là các tổn thương nhiệt đơn lẻ, khác biệt cơ bản với đặc điểm đa chấn thương phức tạp trong chiến tranh hiện đại. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới công tác huấn luyện, chuyển dịch trọng tâm từ điều trị thuận lợi tại bệnh viện sang thực hành kỹ năng cấp cứu dã ngoại và sẵn sàng cho các tình huống thảm họa. Nguyễn Thái Ngọc Minh Lê Quang Thảo Hoàng Văn Vụ Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 56 63 10.56535/jmpm.v51i3.1870 NGHIÊN CỨU BIẾN THỂ GENE GSTT1, GSTM1 VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC Ở BỆNH NHÂN NHIỄM ĐỘC TRINITROTOLUENE NGHỀ NGHIỆP https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1853 Mục tiêu:Xác định kiểu gene null của gene GSTT1, GSTM1 và đặc điểm một số chỉ số huyết học ở bệnh nhân (BN) nhiễm độc trinitrotoluene (TNT) nghề nghiệp.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu bệnh chứng vàmô tả trên 200 công nhân chia thành 2 nhóm: Nhóm bệnh (100 công nhân bị nhiễm độc) và nhóm chứng (100 công nhân không bị nhiễm độc TNT nghề nghiệp) từ tháng 12/2023 - 12/2025 tại Bệnh viện Quân y 103. Kết quả:Tuổi đời nhóm bệnh là 45,67 ± 4,98, nhóm chứng là 45,82 ± 4,98. Tuổi nghề trung bình ở nhóm bệnh là 23,53 ± 6,07, nhóm chứng là 23,44 ± 4,64. Tỷ lệ nam/nữ ở nhóm bệnh là 65/35, nhóm chứng là 71/29. Số lượng bạch cầu (BC), lympho (L), hồng cầu (HC) và nồng độ huyết sắc tố (Hb) ở nhóm bệnh giảm so với nhóm chứng. Kiểu gene GSTT1 null/non-null ở nhóm bệnh là 44/56, nhóm chứng là 46/54, kiểu gene GSTM1 null/non-null ở nhóm bệnh là 69/31 và nhóm chứng là 77/23. Kết luận: BN nhiễm độc TNT có giảm dòng tế bào HC và dòng BC máu ngoại vi so với nhóm phơi nhiễm không bị nhiễm độc. Kiểu gene null của hai gene GSTT1, GSTM1 không ghi nhận sự khác biệt giữa hai nhóm. Số lượng HC và Hb ở người mang kiểu gene GSTM1 null ở nhóm bệnh thấp hơn với nhóm chứng, p < 0,05. Có mối tương quan giữa kiểu gene GSTM1 null và một số chỉ số huyết học. Nguyễn Hoàng Hiệp PGS.TS Nguyễn Văn Bằng PGS.TS Triệu Tiến Sang PGS.TS Trần Văn Khoa BSNT Nguyễn Văn Phong Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 64 72 10.56535/jmpm.v51i3.1853 SO SÁNH ĐỘ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA HAI HỆ THỐNG MÁY ARCHITECT VÀ MAGLUMI-X3 TRONG ĐỊNH LƯỢNG TACROLIMUS MÁU TOÀN PHẦN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1852 Mục tiêu: So sánh độ tương đồng và khả năng thay thế lâm sàng giữa hai máy miễn dịch ARCHITECT và MAGLUMI-X3 trong định lượng Tacrolimus máu toàn phần. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, so sánh trên 106 mẫu máu của người bệnh đang điều trị Tacrolimus. Mẫu được phân tích trên hai máy ARCHITECT và MAGLUMI-X3 theo quy trình của nhà sản xuất. Sự tương đồng giữa hai phương pháp được đánh giá bằng phân tích Bland-Altman, hồi quy Passing-Bablok và ước tính độ chệch tại các điểm quyết định lâm sàng (5 và 12 ng/mL) theo Hướng dẫn CLSI EP09 [1]. Kết quả: Kết quả định lượng Tacrolimus trên hai máy có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ (hệ số tương quan Spearman r = 0,971; p < 0,0001). Phân tích cho thấy độ chệch trung bình là -0,8 ng/mL ± 0,7 (-12,0 ± 7,65%). Mô hình Passing-Bablok cho thấy không tồn tại sai lệch cố định nhưng ghi nhận sai lệch tỷ lệ với hệ số góc b = 0,86 (95%CI: 0,78 - 0,95). Tại điểm quyết định lâm sàng 5 ng/mL, độ chệch vượt quá giới hạn chấp nhận theo CLSI EP09 (trường hợp E); tại mức 12 ng/mL, độ chệch thuộc trường hợp D. Kết luận: ARCHITECT và MAGLUMI-X3 có tương quan tốt trong định lượng Tacrolimus. Tuy nhiên, kết quả giữa hai máy không thể dùng thay thế lẫn nhau. BS Nguyễn Thành Long ThS. BS Hồ Thị Hằng TS. BS Nguyễn Thị Mai Ly ThS. BS. Nguyễn Thị Hoa PGS. TS Phạm Văn Trân Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 73 79 10.56535/jmpm.v51i3.1852 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: CHẨN ĐOÁN TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ MỘT HOẶC CẢ HAI MẮT VÀ TẬT MẮT NHỎ BẤT THƯỜNG DO BIẾN THỂ DỊ HỢP TỬ GENE SOX2 https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1822 Rối loạn liên quan đến biến thể gene SOX2, còn gọi là rối loạn mắt liên quan đến biến thể gene SOX2 hoặc dị tật liên quan đến SOX2, là tình trạng di truyền hiếm gặp, đặc trưng bởi không có một hoặc cả hai mắt (anophthalmia) hoặc mắt nhỏ bất thường (microphthalmia). Tỷ lệ mắc bệnh anophthalmia khi sinh ước tính khoảng 3/100.000 trẻ sinh sống, và microphthalmia khoảng 14/100.000 trẻ sinh sống. Tuy nhiên, bằng chứng kết hợp cho thấy tỷ lệ mắc các dị tật này có thể lên tới 30/100.000 cá thể. Đây là rối loạn di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, phần lớn các trường hợp là de novo [1]. Chúng tôi báo cáo ca bệnh có biến thể dị hợp tử gene SOX2 được phát hiện bằng phương pháp giải trình tự thế hệ mới và kiểm chứng lại bằng giải trình tự gene trực tiếp Sanger. Báo cáo ca lâm sàng này góp phần mở rộng hiểu biết về cơ chế bệnh sinh và ý nghĩa lâm sàng của biến thể gene SOX2, đồng thời cung cấp bằng chứng hữu ích vào sự hiểu biết chung về nguyên nhân gây bệnh và cung cấp cơ sở khoa học cho bác sĩ sản khoa, di truyền học và chẩn đoán trước sinh trong phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và tư vấn bất thường di truyền ở thai. Thạc sỹ Nguyễn Kim Huệ Nguyễn Thu Hằng Bác sỹ CK II Hà Hải Bằng Bác sỹ CK II Nguyễn Trí Toạ Bác sỹ CK II Nguyễn Đức Trường Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 80 84 10.56535/jmpm.v51i3.1822 ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BẠCH CẦU, MỘT SỐ CHỈ SỐ LIÊN QUAN BẠCH CẦU TRÊN NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN HUYẾT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1820 Mục tiêu: Phân tích đặc điểm và sự biến đổi của bạch cầu (BC) và các chỉ số liên quan BC, bao gồm tỷ lệ BC trung tính/lympho (NLR), tỷ lệ tiểu cầu/lympho (PLR), tỷ lệ mono/lympho (MLR) và tỷ lệ BC trung tính/tiểu cầu (NPR) trên người bệnh (NB) nhiễm khuẩn huyết (NKH). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 399 NB được chẩn đoán NKH tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2023 - 7/2025. Kết quả: Tỷ lệ tử vong chung là 20,1%. Tại thời điểm nhập viện (T1), các chỉ số liên quan tới BC ở nhóm tử vong cao hơn rõ rệt so với nhóm sống: NLR (15,61 so với 8,58), PLR (297,35 so với 195,10) với p < 0,01 và MLR (1,28 so với 1,05; p < 0,05). Tại thời điểm sau 48 giờ điều trị (T3), nhóm tử vong có NLR tăng lên 33,46 và NPR tăng cao lên 9,57; đồng thời tiểu cầu giảm mạnh (p < 0,01). Ngược lại, nhóm sống cho thấy sự cải thiện rõ rệt, các chỉ số NLR, PLR, MLR, NPR đều giảm thấp có ý nghĩa (p < 0,01) và số lượng BC lympho tăng lên (p < 0,05). Kết luận: Các chỉ số tỷ lệ (NLR, PLR, MLR) có giá trị cảnh báo sớm tốt hơn BC đơn thuần tại thời điểm nhập viện. Sự gia tăng động học của NLR và NPR sau 48 giờ điều trị là những dấu hiệu tin cậy để tiên lượng nguy cơ tử vong. Tiến sĩ Nguyễn Việt Phương Ths Nguyễn Minh Hải Bác sĩ Trương Xuân Hoàn Bác sĩ Đinh Hồng Quân Bác sĩ Đỗ Mỹ Linh Bác sĩ Trần Xuân Toản Bác sĩ Phan Duy Khánh Bác sĩ Nguyễn Thái Huy Hoàng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 85 93 10.56535/jmpm.v51i3.1820 TIÊM HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU QUA LỖ CÙNG ĐIỀU TRỊ ĐAU MẠN TÍNH SAU PHẪU THUẬT CỘT SỐNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1833 Mục tiêu:Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (platelet-rich plasma - PRP) ngoài màng cứng qua lỗ cùng trong điều trị đau mạn tính sau phẫu thuật cột sống thắt lưng (PTCSTL). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả, can thiệp không đối chứng, theo dõi dọc trên 60 bệnh nhân (BN) đau mạn tính sau PTCSTL tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8/2024 - 8/2025. BN được tiêm PRP ngoài màng cứng qua lỗ cùng và đánh giá kết quả bằng thang điểm VAS (visual analoge scale) và MacNab tại các thời điểm: Trước can thiệp, 1 tháng và 3 tháng sau điều trị. Kết quả:Điểm VAS trung bình giảm rõ rệt từ 7,4 ± 1,1 (trước can thiệp) xuống 4,3 ± 1,2 (sau 1 tháng) và còn 3,9 ± 1,3 (sau 3 tháng), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). BN đạt kết cục lâm sàng "Tốt và Rất tốt" theo thang điểm MacNab cải thiện đáng kể từ 23,3% trước điều trị lên 63,3% sau 1 tháng điều trị và đạt 71,7% sau 3 tháng điều trị. Nghiên cứu không ghi nhận các biến chứng nghiêm trọng như nhiễm trùng, tổn thương thần kinh hay chảy máu liên quan đến thủ thuật. Kết luận:Tiêm PRP ngoài màng cứng qua lỗ cùng là phương pháp can thiệp ít xâm lấn, an toàn và hiệu quả cao trong giảm đau, cải thiện chức năng vận động cho BN đau mạn tính sau PTCSTL. Lê Viết Thắng Thạc sĩ Đỗ Trọng Phước Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 94 100 10.56535/jmpm.v51i3.1833 ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ THẦN KINH CƠ TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC NỘI KHOA, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1802 Mục tiêu: Mô tả cơ cấu bệnh lý thần kinh cơ (neuromuscular diseases - NMD), đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tình trạng suy hô hấp ở bệnh nhi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu và mô tả trên 63 bệnh nhi mắc NMD tại Khoa Điều trị Tích cực Nội khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2023 - 7/2025. Thu thập các dữ liệu về chẩn đoán, lâm sàng, phân loại suy hô hấp dựa trên PaO₂/PaCO₂, cận lâm sàng, PRISM III và các liệu pháp điều trị. Kết quả: Trong 63 bệnh nhi, 74,6% được chẩn đoán NMD trước đó, nguyên nhân di truyền chiếm 63,8%, trong đó, phổ biến nhất là nhóm thoái hóa cơ tủy (spinal muscular atrophy - SMA) (56,7%) và nhược cơ bẩm sinh (33,3%). Về lâm sàng, 46% bệnh nhi có biểu hiện rối loạn tri giác, yếu cơ hô hấp (47,6%), rối loạn nuốt (49,2%), yếu chi dưới (92,1%) và chi trên (84,1%), giảm trương lực cơ chiếm 81%. Suy hô hấp type 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (31,7%), trong khi type 1 chỉ gặp 3,2%. Viêm phổi trên hình ảnh X-quang chiếm 85,7%, men CK tăng chiếm 50% và siêu âm tim bất thường chiếm 58,3%. PRISM III trung vị là 3 (IQR: 3 - 7), 57,1% có nguy cơ tử vong rất thấp. 31,8% bệnh nhi được điều trị đặc hiệu. Kết luận: Trẻ mắc NMD nhập hồi sức thường có rối loạn tri giác, chủ yếu suy hô hấp type 2 và tổn thương phổi đi kèm. Nguyên nhân di truyền chiếm ưu thế, trong đó SMA là căn nguyên nổi bật. Đậu Việt Hùng GS, TS Trần Minh Điển Bs Nguyễn Thị Tươi Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 101 108 10.56535/jmpm.v51i3.1802 NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1843 Mục tiêu:Nghiên cứu đặc điểm rối loạn chất lượng giấc ngủ bằng thang điểm PSQI ở bệnh nhân (BN) có hội chứng chuyển hóa (HCCH). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên70 BN được chẩn đoán HCCH đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2024 - 5/2025. Chất lượng giấc ngủ được khảo sát bằng thang điểm PSQI. Kết quả: Tỷ lệ BN có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5) là 51,4%. Tuổi, nồng độ glucose và LDL ([Low-Density Lipoprotein](https://www.google.com/search?q=Low-Density+Lipoprotein&oq=Tu%E1%BB%95i%2C+n%E1%BB%93ng+%C4%91%E1%BB%99+glucose+v%C3%A0+LDL+c%C3%B3+t%C6%B0%C6%A1ng+quan+thu%E1%BA%ADn+v%C3%A0+c%C3%B3+%C3%BD+ngh%C4%A9a+th%E1%BB%91ng+k%C3%AA+v%E1%BB%9Bi+%C4%91i%E1%BB%83m+PSQI%3A+LDL+vi%E1%BA%BFt+t%E1%BA%AFt+c%E1%BB%A7a+g%C3%AC&gs_lcrp=EgZjaHJvbWUyBggAEEUYOdIBCTE1MDA3ajBqN6gCCLACAfEFIgbBd5j1-GHxBSIGwXeY9fhh&sourceid=chrome&ie=UTF-8&mstk=AUtExfCrRAn8K3VDYEX5jlhGHmG_NBafFw8dpSRY3hOD0Zn-Jgz6mEq1vvRTQAga6pKXAb6ZIuOMB0zoYIGVhiBgrZYRY7sFlWpUKA30rld0TLuLE15zI3lOUKzGlMYunjN-gTE&csui=3&ved=2ahUKEwiItYmaoJmTAxVUs1YBHcXtMQgQgK4QegQIAhAC)) có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với điểm PSQI. Nữ giới và nhóm có 5 thành phần của HCCH ghi nhận điểm PSQI cao hơn đáng kể so với nam giới và nhóm có 3 thành phần của HCCH. Kết luận: Tỷ lệ giảm chất lượng giấc ngủ ở BN có HCCH ở mức cao. Tuổi, giới tính, nồng độ glucose, LDL, số lượng thành phần của HCCH là các yếu tố liên quan tới chất lượng giấc ngủ của BN có HCCH. Phạm Ngọc Thảo TS Đỗ Xuân Tĩnh Nguyễn Huy Thông Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 109 116 10.56535/jmpm.v51i3.1843 GIÁ TRỊ CỦA KHÁNG NGUYÊN ĐẶC HIỆU TUYẾN TIỀN LIỆT VÀ CỘNG HƯỞNG TỪ ĐA THAM SỐ TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1831 Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán của kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt toàn phần (tPSA), mật độ PSA (PSAd) và cộng hưởng từ đa tham số (mpMRI) theo phân loại PI-RADS trong phát hiện ung thư tuyến tiền liệt (TTL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 92 bệnh nhân (BN) nghi ngờ ung thư TTL được sinh thiết tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 4/2024 - 9/2025. Tất cả BN được xét nghiệm tPSA, tính PSAd và chụp mpMRI TTL (3.0 Tesla), đọc kết quả theo PI-RADS v2.1. Giá trị chẩn đoán được đánh giá bằng đường cong ROC, diện tích dưới đường cong (AUC), độ nhạy và độ đặc hiệu. Kết quả: Tỷ lệ ung thư TTL qua sinh thiết là 47,8%. Nguy cơ ung thư tăng đáng kể ở các nhóm PI-RADS cao và khi nồng độ PSA tăng. Phân loại PI-RADS cho giá trị chẩn đoán cao nhất với AUC = 0,932, cao hơn so với tPSA (AUC = 0,879) và PSAd (AUC = 0,869). Tại ngưỡng cắt tối ưu, PI-RADS đạt độ nhạy 93,2% và độ đặc hiệu 91,7%, trong khi tPSA và PSAd đều có độ nhạy và độ đặc hiệu ≥ 84%. Kết luận: mpMRI có giá trị cao nhất trong chẩn đoán và phân tầng nguy cơ ung thư TTL; tPSA và PSAd vẫn hữu ích trong sàng lọc và đánh giá ban đầu. Phạm Ngọc Đề TS.BS Hồ Xuân Tuấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 117 126 10.56535/jmpm.v51i3.1831 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: RỐI LOẠN ĐÔNG MÁU RẢI RÁC TRONG LÒNG MẠCH KIỂU HÌNH HUYẾT KHỐI SAU CHẤN THƯƠNG LÁCH NẶNG - THÁCH THỨC TRONG QUYẾT ĐỊNH ĐIỀU TRỊ CHỐNG ĐÔNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1885 Mục tiêu: Báo cáo một trường hợp lâm sàng đông máu rải rác trong lòng mạch (disseminated intravascular coagulation - DIC) kiểu hình huyết khối sau chấn thương lách nặng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu báo cáo 01 bệnh nhân (BN) nam 41 tuổi vào viện vì sốc chấn thương do vỡ lách và gãy xương sườn. BN được phẫu thuật cắt lách cấp cứu, sau đó xuất hiện biến chứng DIC tiến triển và điều trị bằng thuốc chống đông (heparin) kết hợp hồi sức truyền chế phẩm máu tích cực. Kết quả: Khởi động điều trị heparin kết hợp truyền máu mục tiêu tiểu cầu > 50 G/L, INR < 1,5 và fibrinogen > 1,5 g/L giúp cải thiện tưới máu tạng và ổn định các chỉ số đông máu sau 6 ngày điều trị. Không ghi nhận biến chứng chảy máu trong suốt quá trình sử dụng chống đông. Kết luận: Chẩn đoán sớm DIC kiểu hình huyết khối dựa trên thang điểm ISTH (International Society on Thrombosis and Haemostasis) và hình ảnh học là cần thiết. Sử dụng heparin có kiểm soát có thể cứu sống BN, ngay cả trong giai đoạn hậu phẫu. Phạm Văn Công Bùi Văn Nghĩa Lê Hà Khoa Đinh Quốc Thịnh Vũ Tiến Lực GS Nguyễn Trung Kiên Gs Nguyễn Trường Giang Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 127 134 10.56535/jmpm.v51i3.1885 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI GLUCOSE MÁU Ở SẢN PHỤ TRONG VÒNG 7 NGÀY SAU LIỆU PHÁP CORTICOSTEROID https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1849 Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố liên quan đến sự thay đổi glucose máu ở sản phụ sau tiêm corticosteroid trước sinh trong vòng 7 ngày. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên hồ sơ bệnh án của 155 sản phụ có tuổi thai 23 tuần 0/7 ngày đến 33 tuần 6/7 ngày được dùng liệu pháp corticosteroid trước sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ ngày 01/11/2023 - 30/04/2024. Kết quả:Ghi nhận mối tương quan tuyến tính đồng biến giữa chỉ số HbA1c và giá trị glucose máu sau ăn 2 giờ trung bình với hệ số tương quan r = 0,485, R = 0,74, p < 0.05 với mức ý nghĩa p < 0,05. Không ghi nhận mối tương quan tuyến tính giữa chỉ số BMI, HbA1c và tuổi thai với nồng độ glucose máu khi đói và glucose máu sau ăn 1 giờ. Không ghi nhận mối tương quan tuyến tính giữa chỉ số BMI, tuổi thai và nồng độ glucose máu sau ăn 2 giờ. Sản phụ đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có thể cần điều chỉnh phương thức kiểm soát đường huyết sau tiêm corticosteroid. Kết luận: Khi HbA1c tăng thì giá trị glucose máu sau tiêm corticosteroid 2 giờ cũng tăng lên. TS. Đỗ Tuấn Đạt Ths.BS Lại Duy Hiếu TS.BS Phan Thị Huyền Thương Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 135 143 10.56535/jmpm.v51i3.1849 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG BÊN TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN XƯƠNG MÁC CÓ DOÃNG MỘNG CHÀY MÁC https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1836 Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật kết hợp xương bên trong điều trị gãy kín xương mác (GKXM) có doãng mộng chày mác (DMCM). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu và mô tả cắt ngang trên 33 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán GKXM) có DMCM, đã được điều trị phẫu thuật kết hợp xương bên trong tại Khoa Chấn thương chung và Vi phẫu, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2023 - 5/2025. Kết quả được đánh giá bằng X-quang, tình trạng liền xương, thang điểm AOFAS, mức độ đau và biến chứng. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 44,9 ± 18,0; nam giới chiếm 63,6%. Nguyên nhân thường gặp do tai nạn giao thông (63,6%). Gãy xương mác kèm mắt cá trong chiếm 42,4%. Tất cả trường hợp được nắn chỉnh đạt yêu cầu. Thời gian theo dõi trung bình từ 16 ± 5,3 tháng; 91,3% trường hợp liền xương tốt; 87% khớp cổ chân bình thường hoặc chỉ có gai xương nhỏ chưa gây hẹp khe khớp; 69,6% không đau. Ghi nhận 2 trường hợp nhiễm trùng nông vết mổ; không gặp biến chứng nặng. Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương bên trong cho kết quả điều trị tốt đối với GKXM có DMCM. Lựa chọn phương tiện kết hợp xương phù hợp với hình thái gãy giúp nắn chỉnh vững chắc, phục hồi chức năng khớp cổ chân và hạn chế biến chứng. Phạm Ngọc Thắng Bùi Tuấn Anh Ouk Sothearith Thái Ngọc Bình Vũ Anh Dũng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 144 151 10.56535/jmpm.v51i3.1836 ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỄM VI KHUẨN ĐA KHÁNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1865 Mục tiêu: Nhận xét ảnh hưởng của nhiễm vi khuẩn đa kháng (multi drug resistant bacteria - MDRb) đến tỷ lệ tử vong, thời gian liền bỏng nông và chi phí điều trị ở bệnh nhân (BN) bỏng nặng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả và theo dõi dọc trên 131 BN bỏng nặng điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01 - 12/2023, với 744 mẫu bệnh phẩm (máu, mủ vết thương và nước tiểu). Kết quả: Diện tích bỏng sâu (DTBS) và nhiễm MDRb máu có mối tương quan độc lập với tử vong (p < 0,05). Tăng mỗi 1% DTBS làm tăng nguy cơ tử vong thêm 1,07 lần, cấy máu mọc MDRb làm tăng nguy cơ tử vong 8,03 lần sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố khác. Giá trị tiên lượng tử vong của MDRb máu ở mức khá (AUC = 0,75), với độ nhạy là 55,77% và độ đặc hiệu là 93,67%. Nhóm BN nhiễm MDRb có thời gian nằm hồi sức cấp cứu, thời gian liền bỏng nông và chi phí điều trị trên 1% diện tích bỏng (DTB) cao hơn đáng kể so với nhóm không nhiễm MDRb (p < 0,01). Kết luận: Nhiễm MDRb làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong, thời gian liền bỏng nông và chi phí điều trị ở BN bỏng nặng (p < 0,05). Cấy máu có MDRb là yếu tố tiên lượng độc lập tử vong (p < 0,01). GS, TS Nguyễn Như Lâm ThS Lê Quốc Vương PGS, TS Lê Đức Mẫn Ngô Tuấn Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 152 159 10.56535/jmpm.v51i3.1865 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CĂN NGUYÊN VI SINH VẬT VÀ KẾT CỤC ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI LIÊN QUAN THỞ MÁY https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1812 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, căn nguyên vi sinh vật và kết cục điều trị ở người bệnh (NB) viêm phổi liên quan thở máy (VPLQTM). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp với theo dõi dọc trên 76 NB được chẩn đoán VPLQTM tại Khoa Hồi sức Ngoại - Trung tâm Hồi sức cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 6/2025. Kết quả: Nam giới chiếm 79,0%, tuổi trung bình là 60,97 ± 19,32 và nhóm tuổi > 60 chiếm 67,0%. VPLQTM khởi phát muộn (≥ 5 ngày) chiếm ưu thế với 75,0% số ca. Tổng cộng có 89 chủng vi khuẩn được phân lập, với tác nhân phổ biến nhất là vi khuẩn Acinetobacter baumannii (A. baumannii) chiếm62,9%. Tỷ lệ tử vong chung sau 30 ngày là 42,1%. Tỷ lệ tử vong ở nhóm nhiễm vi khuẩn A. baumannii (51,8%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm còn lại (15,0%, p < 0,05). Kết luận: VPLQTM khởi phát muộn là hình thái phổ biến với tác nhân chủ yếu là vi khuẩn A. baumannii. Nhiễm vi khuẩn A. baumannii là một yếu tố tiên lượng quan trọng, liên quan đến việc tăng đáng kể tỷ lệ tử vong của NB. Ngô Quý Lâm ThS Bùi Ngọc Hà TS Vũ Minh Dương TS Nguyễn Tiến Dũng BS Trần Minh Sơn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 160 168 10.56535/jmpm.v51i3.1812 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẮT CHỈNH XƯƠNG HÀM ỨNG DỤNG KẾ HOẠCH 3D TRONG ĐIỀU TRỊ LỆCH LẠC KHỚP CẮN HẠNG III https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1825 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật cắt chỉnh xương hàm ứng dụng kế hoạch phẫu thuật 3D (virtual surgical planning - VSP) ở bệnh nhân (BN) lệch lạc khớp cắn hạng III. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc trên 16 BN trưởng thành bị lệch lạc khớp cắn hạng III được phẫu thuật chỉnh hình xương hàm có VSP tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2021 - 2025. Đánh giá lâm sàng, cephalometric và MSCT 3D được tiến hành trước phẫu thuật và sau phẫu thuật 6 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 24,19 ± 4,32, nam giới chiếm ưu thế. Sau 6 tháng, các chỉ số xương cải thiện rõ rệt: Góc ANB từ -4,82° lên 1,34° và độ cắn chìa từ -6,14mm lên 2,44mm (p < 0,001). Khuôn mặt cân đối, khớp cắn ổn định và chức năng ăn, nhai được cải thiện, không ghi nhận biến chứng nặng; mức độ hài lòng của BN cao. Kết luận: Phẫu thuật chỉnh hình xương hàm có lập kế hoạch 3D là phương pháp an toàn, hiệu quả trong điều trị lệch lạc khớp cắn hạng III, mang lại kết quả chức năng và thẩm mĩ ổn định. Nguyễn Thị Thanh TS Đào Văn Giang ThS Tô Tuấn Linh Chuyên khoa II Trần Thị Thanh Huyền PGS Nguyễn Hồng Hà Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 169 176 10.56535/jmpm.v51i3.1825 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA GÂY TÊ NHÓM THẦN KINH BAO KHỚP HÁNG (PENG BLOCK) TRONG CẢI THIỆN TƯ THẾ BỆNH NHÂN GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI CHO GÂY TÊ TUỶ SỐNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1783 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau khi đặt tư thế gây tê tủy sống (GTTS) sau gây tê nhóm thần kinh bao khớp háng (pericapsular nerve group block - PENG block) dưới hướng dẫn của siêu âm ở bệnh nhân (BN) gãy cổ xương đùi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả trên 20 BN gãy cổ xương đùi/liên mấu chuyển được phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 12/2024 - 6/2025. Kết quả: PENG block giúp đặt tư thế thuận lợi, giảm đau rõ rệt khi gập háng và xoay hông - hai động tác gây đau nhất trước đó. Điểm đau VAS (visual analog scale) khi đặt tư thế GTTS là 1,2 ± 0,7 giảm rõ rệt so với điểm đau VAS trước PENG block (khi vận động) là 8,7 ± 0,7. Tại thời điểm tiến hành GTTS, 18/20 BN (90%) có thể nằm nghiêng, cong lưng để thực hiện thủ thuật mà không cần hỗ trợ. 1 BN nữ 85 tuổi cần hỗ trợ nhẹ để duy trì tư thế. Không ghi nhận tai biến hoặc biến chứng trong và sau thủ thuật. Kết luận: PENG block dưới hướng dẫn siêu âm có tác dụng giảm đau tốt khi chuẩn bị tư thế BN gãy cổ xương đùi có gãy liên mấu chuyển xương đùi để tiến hành GTTS. Không ghi nhận bất kỳ tai biến hay biến chứng nào khi thực hiện kỹ thuật PENG block. Cần có các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để xác nhận hiệu quả và tính ưu việt của PENG block so với các kỹ thuật truyền thống. Phạm Xuân Hùng Bs Ck1 Nguyễn Quang Lợi Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 177 185 10.56535/jmpm.v51i3.1783 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: PHẪU THUẬT XỬ TRÍ BIẾN CHỨNG NÂNG MŨI BẰNG TIÊM SILICONE LỎNG https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1680 Silicone lỏng hiện không còn được sử dụng trong nâng mũi cũng như các vị trí khác trên cơ thể do tỷ lệ biến chứng cao. Các trường hợp bệnh nhân (BN) có biến chứng sau tiêm silicone lỏng cần được phẫu thuật chỉnh sửa.Báo cáo ca lâm sàng này được thực hiện trên BN nữ, 57 tuổi, có sống mũi ngắn và có biến chứng sau nâng mũi bằng tiêm silicone lỏng vào sống mũi. BN được phẫu thuật cắt bỏ mô ngấm silicone lỏng, sau đó tạo hình sống mũi và đầu mũi bằng sụn sườn tự thân phối hợp với mỡ tự thân.Sau phẫu thuật 24 tháng, tháp mũi cân đối, sống mũi được kéo dài, sống mũi và đầu mũi được nâng cao, BN hài lòng với kết quả này. Do đó, đối với các trường hợp sống mũi ngắn và có biến chứng sau tiêm silicone lỏng để nâng mũi, phẫu thuật chỉnh sửa dùng sụn sườn tự thân và mỡ tự thân để tái tạo cấu trúc mũi là giải pháp phù hợp, giúp khôi phục hình dạng mũi và đạt được kết quả thẩm mỹ mong muốn. Sụn sườn đóng vai trò tái lập khung đỡ vững chắc, trong khi mỡ tự thân giúp bù đắp thể tích thiếu hụt và nuôi dưỡng da. Tiến sĩ. Bác sĩ. Nguyễn Anh Tuấn Thạc sĩ. Bác sĩ Nguyễn Đức Vượng Thạc sĩ. Bác sĩ Mai Thị Trâm Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 186 193 10.56535/jmpm.v51i3.1680 HIỆU QUẢ CỦA THÔNG KHÍ NẰM SẤP TRONG CẢI THIỆN OXY HÓA MÁU VÀ THANH THẢI CO₂ Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG CÓ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1850 Mục tiêu:Đánh giá hiệu quả của thông khí nằm sấp (TKNS) trong cải thiện oxy hóa máu và thanh thải CO₂ ở bệnh nhân (BN) bỏng nặng có hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (acute respiratory distress syndrome - ARDS). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 48 BN bỏng người lớn mắc ARDS được TKNS, điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2023 - 12/2025. Các thời điểm nghiên cứu: Trước TKNS (T0), sau 1 giờ (T1), 6 giờ (T6), 12 giờ (T12) và 16 giờ (T16). Kết quả: Tỷ số PaO₂/FiO₂ tăng có ý nghĩa ngay tại T1 so với T0 (133,9 ± 2,1 so với 128,0 ± 2,1mmHg; p = 0,0003) và tăng cao nhất tại T16 (159,6 ± 2,1mmHg). Chỉ số OI (oxygenation index) giảm dần và giảm có ý nghĩa ngay tại T1 so với T0 (17,10 ± 0,43 xuống 16,45 ± 0,43; p = 0,0365) và thấp nhất tại T16 (14,66 ± 0,43). Đối với sự thay đổi áp lực riêng phần CO₂ trong máu động mạch (PaCO₂), trung bình toàn bộ mẫu không thay đổi có ý nghĩa theo thời gian (p > 0,05). Tuy nhiên, ở nhóm BN có bỏng hô hấp (BHH), PaCO₂ giảm dần và giảm có ý nghĩa tại T16 so với T0 (47,67 ± 0,66 so với 48,55 ± 0,66mmHg; p = 0,03). Kết luận:TKNS có hiệu quả cải thiện oxy hoá máu và thanh thải CO₂ ở BN bỏng nặng mắc ARDS, đặc biệt ở nhóm có BHH. Lê Quang Thảo Gs Nguyễn Như Lâm TS Trần Đình Hùng Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 194 202 10.56535/jmpm.v51i3.1850 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁI LẬP LƯU THÔNG TIÊU HÓA TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN CẮT DẠ DÀY ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN K https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1872 Mục tiêu:Đánh giá tính khả thi, an toàn và tình trạng viêm miệng nối, trào ngược dịch mật liên quan đến các phương pháp tái lập lưu thông tiêu hóa trong phẫu thuật nội soi (PTNS) hoàn toàn cắt dạ dày điều trị ung thư biểu mô tuyến dạ dày. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 147 bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tuyến dạ dày được PTNS cắt dạ dày và tái lập lưu thông tiêu hóa trong cơ thể tại Bệnh viện K từ tháng 01/2020 - 6/2025. Kết quả: Miệng nối Delta-shape và Finsterer chủ yếu được áp dụng cho các khối u giai đoạn sớm, vị trí tiền môn vị. Thời gian mổ và thời gian thực hiện miệng nối ở nhóm Roux-en-Y dài hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Tỷ lệ rò miệng nối và biến chứng sớm sau mổ thấp. Tỷ lệ trào ngược dịch mật và viêm miệng nối thấp nhất ở nhóm Roux-en-Y và cao nhất ở nhóm Finsterer (p < 0,05). Kết luận: Tái lập lưu thông tiêu hóa trong ổ bụng của BN PTNS hoàn toàn cắt dạ dày là khả thi và an toàn. Lựa chọn phương pháp làm miệng nối cần cá thể hóa dựa trên vị trí khối u, giai đoạn bệnh và tình trạng toàn thân của BN. PGS.TS Phạm Văn Bình Ths.BSNT Thái Đức An TS.BS Nguyễn Đức Duy Ths.BSNT Nguyễn Duy Thanh Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 203 210 10.56535/jmpm.v51i3.1872 HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI SỚM SAU PHẪU THUẬT Ở NGƯỜI BỆNH GHÉP THẬN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1859 Mục tiêu:Đánh giá hiệu quả chương trình chăm sóc phục hồi sớm sau phẫu thuật (enhanced recovery after surgery - ERAS) ở người bệnh (NB) ghép thận. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 NB được phẫu thuật (PT) ghép thận trong chương trình ERAS từ tháng 8/2023 - 7/2025 tại Khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả: Thời gian nhịn ăn trước PT là 6,6 ± 0,9 giờ; thời gian nạp carbohydrate trước PT là 3,9 ± 0,7 giờ; thời gian ăn uống sớm là 5,6 ± 0,8 giờ; thời gian NB bước xuống giường lần đầu sau khi PT là 17,5 ± 1,4 giờ; thời gian lưu ống thông niệu đạo và thời gian lưu ống dẫn lưu là 5,1 ± 0,4 ngày - 3,8 ± 0,7 ngày; tỷ lệ buồn nôn - nôn là 20,7%; mức độ đau sau PT theo thang điểm VAS giảm từ 4,9/10 điểm tại 6 giờ xuống 2,3/10 điểm tại 24 giờ; chức năng thận sau ghép thận (creatinine) là 1,07 ± 0,38 mg/dL, eGFR 80,73 ± 21,5 mL/phút/1,73m2. Thời gian nằm viện là 6,7 ± 0,8 ngày. Kết luận: Hiệu quả của chương trình ERAS giúp NB ghép thận hồi phục nhanh hơn, rút ngắn thời gian nằm viện. Đây được xem là dữ liệu có ý nghĩa lâm sàng quan trọng và cung cấp thêm bằng chứng cho điều dưỡng trong việc thực hiện các quy trình chăm sóc mà hiện nay các trung tâm vẫn chưa đưa vào sử dụng. Thạc sĩ Điều dưỡng Nguyễn Quang Huy BSCKII Hoàng Khắc Chuẩn PGS.TS Thái Minh Sâm PGS.TS Điều dưỡng Hà Thị Như Xuân Thạc sĩ Dương Nguyên Xương Chuyên khoa 1 Điều dưỡng Lê Thị Hạnh Phước Cử nhân Điều dưỡng Vũ Thị Kiều Trang Cử nhân Điều dưỡng Hoàng Nguyễn Thuỷ Tiên Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 211 219 10.56535/jmpm.v51i3.1859 KẾT QUẢ TÁN SỎI QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN CÓ NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU ỔN ĐỊNH TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1768 Mục tiêu: Đánh giá kết quả tán sỏi qua da đường hầm nhỏ điều trị sỏi thận có nhiễm khuẩn tiết niệu đã điều trị ổn định. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 40 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật tại Khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 01/2024 - 3/2025. Kết quả: Kích thước sỏi trung bình là 42,1 ± 18,6mm, điểm Guy’ Stone (GSS) độ II chiếm 66,7%; độ III và độ IV lần lượt là 16,7% và 9,5%. Escherichia coli là tác nhân gây nhiễm khuẩn niệu thường gặp nhất. 32,5% vi khuẩn đa kháng thuốc. Thời gian điều trị kháng sinh trước phẫu thuật trung vị là 6,5 ngày. Tỷ lệ sạch sỏi đạt 69%. Tỷ lệ biến chứng là 17,5%; bao gồm sốt đơn thuần (2,4%); hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (7,1%); sốc nhiễm khuẩn (2,4%) và chảy máu cần truyền máu (4,8%). Thời gian điều trị hậu phẫu trung vị 5 ngày. Kết luận: Tán sỏi qua da đường hầm nhỏ là phương pháp hiệu quả và tương đối an toàn trong điều trị sỏi thận có nhiễm khuẩn tiết niệu đã ổn định, với tỷ lệ sạch sỏi đạt 69% và tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật chiếm 17,5%. Việc kiểm soát nhiễm khuẩn trước phẫu thuật có vai trò quan trọng trong ngăn ngừa biến chứng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật. Thạc sĩ Hoàng Văn Thiệp PGS. TS Trần Đức Quý Tiến sĩ Vũ Thị Hồng Anh Thạc sĩ Trần Ngọc Tuấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự 51 3 220 228 10.56535/jmpm.v51i3.1768