Tạp chí Y Dược học Quân sự
https://jmpm.vn/index.php/jmpm
<p>Học viện Quân y là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ngành Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng với 3 nhiệm vụ chính trị trung tâm là đào tạo cán bộ quân y các cấp, đội ngũ nhân viên y tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; điều trị và nghiên cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học quân sự; không ngừng phấn đấu với vị trí của một trong những trường đại học y dược hàng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong các lĩnh vực y học quân sự và y học chung của quốc gia và quốc tế.</p> <p>Tạp chí Y Dược học Quân sự là cơ quan ngôn luận thông tin về các hoạt động của Học viện Quân y, trực thuộc Ban Giám đốc Học viện; được cấp Giấy phép hoạt động báo chí số 345/GP-BVHTT ngày 08/8/2002 và xuất bản 02 tháng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn có thể trao đổi với các đồng nghiệp trên toàn thế giới về thành tựu nghiên cứu y học, Tạp chí Y Dược học Quân sự đã đề nghị Tổng cục Chính trị cho phép tạp chí được đưa các bài viết đã đăng tải lên mạng internet và đã được sự đồng ý của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị (theo công văn số 440/VP của Văn phòng Tổng cục ngày 16/5/2005). Đây là bước phát triển quan trọng của Tạp chí Y Dược học Quân sự, tạo điều kiện cho tạp chí được trao đổi với các tạp chí có uy tín trên thế giới. Ngày 21/06/2006, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ngày 6/5/2026, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu tiên cho tới nay, Tạp chí Y Dược Quân sự đã được cấp phép sửa đổi nâng kỳ xuất bản lên 12 số/năm, trong đó có 10 số tiếng Việt và 02 số tiếng Anh (Giấy phép hoạt động báo chí số 1149/GP-BTTTT năm 2012 và số 594/GP-BTTTT năm 2022 và Công văn số 3201/BVHTTDL-BC ngày 03 tháng 6 năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và các số Tạp chí đặc biệt cho các Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm nâng cao chất lượng tạp chí hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp chí đã xây dựng website riêng để xuất bản online và gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi bài báo, đồng thời đã thực hiện phản biện kín 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi bài báo.</p> <p>Tạp chí Y Dược học quân sự luôn nỗ lực khẳng định thương hiệu của mình, đóng góp tích cực phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị. Tạp chí Y Dược học quân sự thực sự trở thành cơ quan ngôn luận về chuyên môn khoa học, đào tạo và điều trị của Học viện Quân y, sát cánh cùng các đơn vị trong đội hình Học viện viết nên những trang vàng thành tích hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện Quân y.</p>Vietnam Military Medical Universityvi-VNTạp chí Y Dược học Quân sự1859-0748HIỆU QUẢ CỦA TẬP LUYỆN HẠN CHẾ LƯU LƯỢNG MÁU TRONG CẢI THIỆN SỨC MẠNH CƠ VÀ CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2075
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của tập luyện hạn chế lưu lượng máu (blood flow restriction training - BFRT) trong việc cải thiện sức mạnh cơ và chức năng vận động ở người cao tuổi (NCT). Phương pháp nghiên cứu: Các nghiên cứu được tìm kiếm trên PubMed, Web of Science và Scopus trong giai đoạn 2020 - 2026. Tiêu chí lựa chọn gồm NCT đã áp dụng BFRT và báo cáo kết quả về sức mạnh cơ hoặc chức năng vận động. Có 8 nghiên cứu được lựa chọn và tổng hợp định tính theo phương pháp tổng quan hệ thống. Kết quả: BFRT giúp cải thiện rõ rệt sức mạnh cơ, trong khi hiệu quả đối với chức năng vận động có sự biến thiên, phụ thuộc vào đặc điểm đối tượng và hình thức can thiệp. Các phương pháp kết hợp, đặc biệt với tập chức năng hoặc rung toàn thân, mang lại hiệu quả toàn diện hơn. Kết luận: Phương pháp này có giá trị ứng dụng trong việc cải thiện chức năng vận động ở NCT, đặc biệt ở những người không thể thực hiện bài tập cường độ cao.Lê Văn MinhLê Anh TúBùi Duy HoànNguyễn Đình ThànhNguyễn Văn Thư
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51871410.56535/jmpm.v51i8.2075ĐỘC TÍNH CẤP ĐƯỜNG UỐNG VÀ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA CAO LỎNG “HUYẾT GIÁC TÔ MỘC CHỈ GIÁP HOA THANG” TRÊN THỰC NGHIỆM
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2038
Mục tiêu:Đánh giá độc tính cấp đường uống và tác dụng giảm đau của cao lỏng “Huyết giác tô mộc chỉ giáp hoa thang” (HG) trên chuột nhắt trắng. Phương pháp nghiên cứu: Đánh giá độc tính cấp được thực hiện theo Hướng dẫn của Bộ Y tế; tác dụng giảm đau được đánh giá bằng mô hình kích thích bằng mâm nóng và gây đau quặn bằng acid acetic. Kết quả: Với liều cao nhất là 499,20 g dược liệu khô/kg thể trọng (g/kg), cao lỏng HG không gây chết chuột. Chuột vẫn khỏe mạnh sau 7 ngày và chưa xác định được liều LD50. Ở liều 24,96 và 74,88 g/kg/ngày × 7 ngày, cao lỏng HG giúp kéo dài đáng kể thời gian chuột chịu được kích thích nhiệt, giảm số cơn đau quặn và làm chậm sự xuất hiện của cơn đau đầu tiên so với lô chứng (p < 0,001 và p < 0,01). Kết luận: Cao lỏng HG không gây độc tính cấp đường uống ở liều 499,20 g/kg, có tác dụng giảm đau trung ương và ngoại vi trên chuột nhắt trắng ở liều 24,96 và 74,88 g/kg/ngày × 7 ngày.Nguyễn Thị Minh ThuBùi Thị Hạnh LyLê Nguyên Long
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518152310.56535/jmpm.v51i8.2038GIẢI PHẪU PHÂN NHÁNH ĐỘNG MẠCH ĐÙI Ở THỎ: TỪ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI ĐẾN ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2126
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm phân nhánh, đường kính và vị trí xuất phát các nhánh của động mạch đùi ở thỏ ứng dụng trong thực nghiệm.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứumô tả cắt ngang có phân tích trên 32 mẫu đùi của 16 xác thỏ tươi được bơm làm đầy lòng mạch bằng latex. Phẫu tích và đo các thông số giải phẫu tại Bộ môn Giải phẫu, Học viện Quân y từ tháng 3 - 5/2026.Kết quả:Động mạch đùi thỏ có nhiều nhánh bên với tỷ lệ xuất hiện khác nhau. Động mạch hiển (saphenous artery - SA) xuất hiện 100%, các nhánh động mạch mũ đùi ngoài (lateral circumflex femoral artery - LCFA) và động mạch thượng vị đuôi nông (superficial caudal epigastric artery - SCEA) đạt 96,88%, động mạch đùi sâu (deep femoral artery - DFA) và động mạch gối xuống (descending genicular artery - DGA) đạt 90,63%. LCFA có đường kính lớn nhất (0,878 ± 0,277mm). Có sự khác biệt về đường kính thân sinh dục thượng vị hai bên (pudendoepigastric trunk - PET); p < 0,05. Kết luận:Động mạch đùi thỏ có hệ thống phân nhánh đa dạng, trong đó một số nhánh có giá trị trong ứng dụng thực nghiệm.Nguyễn Minh TâmNguyễn Trung HưngNgô Bá Hoàng LamKhuất Đình KhánhNguyễn Minh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518243210.56535/jmpm.v51i8.2126ĐẶC ĐIỂM NHIỄM, YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CANDIDA GÂY VIÊM ÂM ĐẠO TẠI HÀ NỘI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2082
Mục tiêu:Mô tả một số đặc điểm nhiễm, yếu tố liên quan và thành phần loài Candida gây viêm âm đạo tại Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích trên 1.402 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (18 - 49 tuổi) bị viêm âm đạo tại một số bệnh viện ở Hà Nội từ tháng 10/2019 - 9/2021 và từ tháng 12/2023 - 10/2025. Thông tin được thu thập bằng phiếu phỏng vấn; bệnh phẩm dịch âm đạo được lấy để xác định nhiễm nấm và định danh loài bằng soi tươi, thử nghiệm ống mầm và nuôi cấy trên môi trường sinh màu CHROMagarTM Candida. Kết quả:Tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo là 48,24%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm đang mang thai (OR = 1,32; 95%CI: 1,01 - 1,73) và quan hệ tình dục bằng đường miệng (OR = 1,32; 95%CI: 1,04 - 1,69). Các đặc điểm lâm sàng liên quan gồm số lượng, tính chất, màu sắc khí, ngứa, ra máu và cảm giác nóng rát âm đạo (p < 0,05). C. albicans là loài gây bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (50,59%), tiếp đến là C. glabrata (11,09%), C. krusei (4,88%), và C. tropicalis (3,40%). Kết luận: Tỷ lệ nhiễm Candidaở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị viêm âm đạo khá cao và liên quan đến một số yếu tố nguy cơ. Cần kết hợp lâm sàng và xét nghiệm vi ký sinh trong chẩn đoán, đồng thời lưu ý các loài non-albicans Candida trong điều trị.Nguyễn Thị Như QuỳnhPhạm Khánh LinhĐinh Thị Thanh XuânLê Thị Thanh NgaNguyễn Thị Phương ThảoNguyễn Lê VânĐỗ Ngọc Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518334210.56535/jmpm.v51i8.2082BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA XÉT NGHIỆM PGT-M CHO CÁC BỆNH ĐƠN GENE BẰNG BỘ KIT TỰ PHÁT TRIỂN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2029
Mục tiêu: Đánh giá bước đầu hiệu quả kỹ thuật và giá trị lâm sàng của quy trình xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh đơn gene (preimplantation genetic testing for monogenic disorders - PGT-M), sử dụng bộ kit Eurofins trong thực hành thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên 32 cặp vợ chồng có chỉ định PGT-M, quy trình sử dụng bộ kit tự phát triển (Eurofins) tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội. Kết quả: Trong 163 phôi nang được sinh thiết, 37 phôi (22,7%) mang đột biến bệnh lý, 118 phôi (72,4%) đủ điều kiện chuyển, 3 phôi (1,8%) thất bại khuếch đại và 5 phôi (3,1%) không có kết luận. Tỷ lệ xét nghiệm thành công đạt 95,1% và tỷ lệ báo cáo là 96,9%. Tổng cộng 28 bệnh nhân thực hiện 40 chu kỳ chuyển phôi, với tỷ lệ có thai lâm sàng đạt 72,5%, tỷ lệ thai tiến triển là 65,0% và tỷ lệ trẻ sinh sống là 62,5%. Dữ liệu theo dõi trước sinh và sau sinh ở 9 trường hợp đều phù hợp với chẩn đoán PGT-M. Kết luận: Kết quả bước đầu cho thấy quy trình xét nghiệm PGT-M sử dụng bộ kit Eurofins có độ ổn định kỹ thuật tốt và mang lại kết cục lâm sàng thuận lợi trong thực hành IVF thường quy.Bùi Thị Phương HoaPhạm Đình MinhVũ Thu HươngPhạm Văn HưởngNguyễn Thành TrungNguyễn Thị Thanh HảiNguyễn Thị Huyền Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518435210.56535/jmpm.v51i8.2029MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẠCH CẦU ÁI TOAN MÔ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2045
Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa bạch cầu ái toan (BCAT) mô niêm mạc tai giữa và một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm tai giữa mạn tính (VTGMT). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên trên 31 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định VTGMT, điều trị phẫu thuật tại Bộ môn - Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. Kết quả:Nhóm có BCAT mô có xu hướng tăng nguy cơ xẹp nhĩ, tăng tỷ lệ dịch mủ vàng/xanh, polyp hòm nhĩ và mòn tường thượng nhĩ trên cắt lớp vi tính (CLVT) so với nhóm không có, tuy nhiên, sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhóm có BCAT mô có khả năng hòm nhĩ mờ trên CLVT cao hơn nhóm còn lại 7,50 lần; đồng thời ghi nhận mức độ suy giảm thính lực cao hơn với PTA lần lượt là 44,78 ± 3,06 và 36,92 ± 2,16dB, sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết luận: Nhóm có BCAT mô niêm mạc tai giữa có xu hướng xẹp nhĩ, tổn thương hòm nhĩ và tường thượng nhĩ trên CLVT, giảm thính lực nặng hơn so với nhóm không có BCAT mô ở bệnh VTGMT.Nguyễn Thanh HảiĐỗ Lan HươngNguyễn Phi LongVũ Văn MinhNghiêm Đức Thuận
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518536110.56535/jmpm.v51i8.2045KẾT QUẢ PHÔI NANG SỬ DỤNG TINH TRÙNG XUẤT TINH CHẤT LƯỢNG KÉM VÀ TINH TRÙNG TRÍCH XUẤT
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2059
Mục tiêu:Đánh giá kết quả phôi của các tinh trùng xuất tinh ít, yếu, dị dạng, được trích xuất từ mào tinh và tinh hoàn.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứumô tả, hồi cứu trên 120 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm có tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (IVF/ICSI), tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh trong 2 năm (2023 - 2024), được chia thành 4 nhóm. Nhóm 1: Tinh trùng xuất tinh ít, yếu, dị dạng (n = 37); nhóm 2: Tinh trùng ít, yếu, dị dạng nặng (n = 33); nhóm 3: Tinh trùng trích xuất từ mào tinh (n = 34); nhóm 4: Tinh trùng từ tinh hoàn (n = 20). Kết quả:Tỷ lệ thụ tinh trong 4 nhóm lần lượt là 85,9%; 74,3%; 79,5%; 81,8%.Tỷ lệ tạo phôi ngày 3 lần lượt là 87,38%; 74,68%; 79,53%; 81,06%.Tỷ lệ tạo phôi nang lần lượt là 61,68%; 44,75%; 53,36%; 55,29%.Tỷ lệ tạo phôi nang tốt lần lượt là 26,1%; 23,72%; 28,14%; 28,23%.Kết luận:Các chu kỳ IVF/ICSI sử dụngtinh trùng trích xuất từ mào tinh và tinh hoàn mang lại kết quả khả quan hơn so với các trường hợp tinh trùng ít, yếu, dị dạng nặng.Nguyễn Thị Liên HươngNguyễn Trung Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518627010.56535/jmpm.v51i8.2059NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ LSC (LEAST SIGNIFICANT CHANGE) Ở PHỤ NỮ LOÃNG XƯƠNG SAU MÃN KINH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2050
Mục tiêu: Xác định giá trị LSC và khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến giá trị LSC ở phụ nữ (PN) loãng xương sau mãn kinh.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 61 PN loãng xương sau mãn kinh điều trị tại Khoa Khớp, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. Bệnh nhân (BN) được đo mật độ xương (bone mineral density - BMD) hai lần liên tiếp trong cùng một ngày, dựa trên sai số đo BMD lặp lại, tính ra giá trị LSC theo phương pháp Bland và Altman. Kết quả: Giá trị LSC tại cột sống thắt lưng là 0,02 g/cm² và tại cổ xương đùi là 0,035 g/cm². Tỷ lệ BN có thay đổi BMD vượt ngưỡng LSC không có sự khác biệt theo nhóm tuổi và thời gian mãn kinh (p > 0,05). Tuy nhiên, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa BMI và tỷ lệ thay đổi BMD vượt ngưỡng LSC tại cột sống thắt lưng (p = 0,006), trong khi không ghi nhận mối liên quan tại cổ xương đùi (p = 0,205).Kết luận: Giá trị LSC tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi lần lượt là 0,02 g/cm² và 0,035 g/cm². Giá trị LSC bị ảnh hưởng bởi BMI nhưng không bị ảnh hưởng bởi tuổi và thời gian mãn kinh.Đỗ Chí BảoNguyễn Huy ThôngNguyễn Tiến Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518718010.56535/jmpm.v51i8.2050NHẬN XÉT KẾT QUẢ TẠO PHÔI Ở BỆNH NHÂN DỰ ĐOÁN ĐÁP ỨNG BUỒNG TRỨNG CAO ĐIỀU TRỊ THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM ĐƯỢC KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG BẰNG FSH PHỐI HỢP LH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2159
Mục tiêu:Đánh giákết quả tạo phôi sau kích thích buồng trứngbằng follicle-stimulating hormone (FSH) phối hợp luteinizing hormone (LH) ở bệnh nhân (BN) dự đoán đáp ứng buồng trứng cao điều trị thụ tinh ống nghiệm (in vitro fertilization - IVF). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu có so sánh trên 120 phụ nữ vô sinh < 36 tuổi, có số lượng nang thứ cấp (antral follicle count - AFC) > 15 nang vào ngày 2 chu kỳ kích trứng, trong đó 60 bệnh nhân (BN) được kích thích buồng trứng bằng FSH đơn thuần (nhóm I) và 60 BN được kích thích buồng trứng bằng FSH phối hợp với LH (nhóm II) tại Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y từ tháng 01 - 12/2025. Kết quả về số lượng và chất lượng noãn, phôi nang được so sánh giữa hai nhóm bằng kiểm định Mann-Whitney U. Kết quả: Không ghi nhận sự khác biệt về số lượng noãn non, noãn thoái hóa, noãn trưởng thành, noãn thụ tinh thu được giữa hai nhóm (p > 0,05). Số phôi nang ở nhóm II cao hơn có ý nghĩa so với nhóm I (5,48 ± 3,70 so với 3,65 ± 2,09; p = 0,01). Kết luận: Bổ sung LH trong kích thích buồng trứng làm IVF ở phụ nữ dự đoán đáp ứng buồng trứng cao có tiềm năng cải thiện kết quả tạo phôi.Nguyễn Ngọc DiệpĐỗ Ngọc LanLê Thanh HuyềnQuản Vân TrangNguyễn Linh ChiTrần Trọng Hữu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518818910.56535/jmpm.v51i8.2159GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG SỚM CỦA THANG ĐIỂM BOS.MA2 Ở BỆNH NHÂN SỐC TIM
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2090
Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng tử vong 30 ngày của thang điểm BOS.MA2 ở bệnh nhân (BN) sốc tim. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu, theo dõi dọc trên 70 BN sốc tim tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01/2024 - 02/2026. Thu thập các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điểm BOS.MA2. Phân tích mối liên quan giữa BOS.MA2 và tử vong 30 ngày bằng mô hình hồi quy logistic đa biến và diện tích dưới đường cong ROC (AUC). Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 69,3 ± 17; tỷ lệ nam/nữ ≈ 1,8/1. Điểm BOS.MA2 dao động từ 2 - 6, nhóm nguy cơ trung bình và cao chiếm 92,9%. Điểm BOS.MA2 ở nhóm tử vong cao hơn nhóm sống (4,52 ± 0,62 so với 3,76 ± 1,01; p = 0,001). Điểm BOS.MA2 cao làm tăng tỷ lệ tử vong 30 ngày. Nhóm nguy cơ thấp không có trường hợp tử vong, nhóm nguy cơ trung bình có tỷ lệ tử vong là 42,1%, nhóm nguy cơ cao là 63,0% (p = 0,023). BOS.MA2 là yếu tố tiên lượng độc lập tử vong 30 ngày (OR = 3,11; 95%CI: 1,22 - 7,97; p = 0,018). Thang điểm BOS.MA2 có giá trị tiên lượng mức khá với AUC = 0,709; điểm cắt ≥ 4 có độ nhạy cao trong sàng lọc nguy cơ tử vong. Kết luận: Thang điểm BOS.MA2 có giá trị trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng tử vong 30 ngày ở BN sốc tim.Đặng Việt ĐứcNguyễn Thế HảiNguyễn Duy Toàn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
518909910.56535/jmpm.v51i8.2090ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KỸ THUẬT TẠO NÚT DÁN BẰNG MÁU TỰ THÂN TRONG GIẢM TỶ LỆ BIẾN CHỨNG SINH THIẾT PHỔI DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA CẮT LỚP VI TÍNH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1937
Mục tiêu:Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật sử dụng nút dán bằng máu tự thân để giảm tỷ lệ biến chứng trong sinh thiết phổi (STP) dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính (CLVT). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 79 bệnh nhân (BN) có chỉ định STP qua thành ngực được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 9/2024 - 01/2026. Trong đó, 36 BN được STP có sử dụng nút dán bằng máu tự thân (nhóm 1) và 43 BN được STP không sử dụng nút dán (nhóm 2). Kết quả:Đa số là BN cao tuổi, nam giới chiếm 68,35%. Tổn thương trên hình ảnh CLVT ngực thường gặp ở thùy trên phải, với đa số có kích thước < 3cm. Bờ không đều là đặc điểm thường gặp nhất. Số lượng mảnh sinh thiết thu được có trung vị là 3 mảnh. Ung thư biểu mô tuyến gặp nhiều nhất trong các tổn thương ác tính, và viêm lao là tổn thương lành tính hay gặp nhất. Tỷ lệ tràn khí màng phổi (TKMP) ở nhóm 2 là 51,16%, cao hơn không có ý nghĩa thống kê so với nhóm 1 (33,33%), với p > 0,05. TKMP tiến triển sau 24 giờ chỉ gặp ở nhóm 2 (18,6%). Kết luận: Kỹ thuật STP dưới hướng dẫn của CLVT có sử dụng nút dán bằng máu tự thân là kỹ thuật an toàn, đạt hiệu quả chẩn đoán cao, giảm tỷ lệ biến chứng TKMP sau sinh thiết.Nguyễn Đức HuyĐào Ngọc BằngTạ Bá ThắngPhạm Thị Kim NhungBạch Quốc TuấnNguyễn Hoàng Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51810010810.56535/jmpm.v51i8.1937ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CHỨC NĂNG GAN SAU ĐIỀU TRỊ HÓA TẮC MẠCH Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2132
Mục tiêu:Đánh giá sự thay đổi chức năng gan và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) sau điều trị hóa tắc mạch (transarterial chemoembolization - TACE). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc trên 81 BN UTBMTBG được điều trị TACE tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2024 - 4/2026. Các chỉ số chức năng gan (AST, ALT, bilirubin, albumin, INR), phân độ Child-Pugh và ALBI (albumin-bilirubin) được đánh giá trước và sau điều trị 1 tháng. Phân tích mối liên quan giữa sự thay đổi chức năng gan với các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả:Sau 1 tháng điều trị TACE, các chỉ số enzyme gan, bilirubin tăng, trong khi albumin giảm có ý nghĩa so với trước điều trị (p < 0,05). BN có suy giảm chức năng gan (điểm Child-Pugh tăng ≥ 1) chiếm tỷ lệ đáng kể. Sự thay đổi chức năng gan liên quan đến gánh nặng khối u, giai đoạn bệnh và một số chỉ số sinh hóa trước điều trị. Kết luận:TACE ảnh hưởng đáng kể đến chức năng gan trong giai đoạn sớm sau điều trị. Việc đánh giá chức năng gan sau điều trị TACE có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng và lựa chọn định hướng điều trị tiếp theo.Lê Thị Hương QuỳnhDương Quang HuyĐinh Tiến Đông
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51810911710.56535/jmpm.v51i8.2132PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỒNG ĐỘ BETA-CROSSLAPS HUYẾT TƯƠNG Ở PHỤ NỮ LOÃNG XƯƠNG SAU MÃN KINH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2042
Mục tiêu:Khảo sát nồng độ beta-crosslaps (β-CTX) huyết tương và mối liên quan với đặc điểm lâm sàng và điều trị ở phụ nữ (PN) loãng xương sau mãn kinh. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 PN loãng xương sau mãn kinh được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 01/2026. Định lượng nồng độ β-CTX huyết tương lúc đói và phân tích mối liên quan với các yếu tố lâm sàng, mật độ xương. Kết quả: Nồng độ β-CTX huyết tương trung vị là 344,25 pg/mL. Nồng độ β-CTX huyết tương ở nhóm từng điều trị bằng bisphosphonate thấp hơn nhóm chưa điều trị (306,90 pg/mL so với 628,00 pg/mL; p = 0,002). Nồng độ β-CTX huyết tương ở nhóm đau lưng cấp tính và bán cấp (≤ 3 tháng) cao hơn nhóm đau lưng mạn tính (> 3 tháng) (754,80 so với 274,20; p < 0,001). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ β-CTX huyết tương giữa các nhóm tuổi và thời gian mãn kinh (p > 0,05). Không ghi nhận mối tương quan giữa nồng độ β-CTX huyết tương với mật độ xương và T-score (p > 0,05). Kết luận: Ở PN loãng xương sau mãn kinh, nồng độ β-CTX huyết tương là 344,25 pg/mL. Nồng độ Β-CTX huyết tương giảm rõ rệt ở nhóm từng được điều trị bằng bisphosphonate và tăng cao ở nhóm đau lưng cấp tính/bán cấp do xẹp mới ở thân đốt sống. Chỉ số này phản ánh động thái tiêu xương cấp diễn hơn là mức độ giảm mật độ xương tích lũy.Trần Thị Phương ThảoNguyễn Huy ThôngNguyễn Tiến Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51811812510.56535/jmpm.v51i8.2042BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: NGỘ ĐỘC NÃO DO THUỐC CẢN QUANG SAU CAN THIỆP MẠCH NÃO
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2074
Ngộ độc não do thuốc cản quang (contrast-induced encephalopathy - CIE) sau thủ thuật can thiệp mạch não sử dụng thuốc cản quang (TCQ) iod là biến chứng hiếm gặp (0,3 - 1%), lâm sàng thường mô phỏng đột quỵ cấp. Báo cáo ca lâm sàng này được thực hiện trên bệnh nhân (BN) nữ, 66 tuổi, có túi phình động mạch thông trước kích thước 7 × 4mm, được đặt stent với kỹ thuật chụp mạch số hóa xóa nền (digital subtraction angiography - DSA) với Ultravist 300 (250mL), chức năng thận bình thường. Sau thủ thuật, BN giảm tri giác, liệt nửa người phải, thất ngôn, co giật toàn thể. Cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging - MRI) đa mô thức ghi nhận tăng tín hiệu vỏ não trên chuỗi xung DWI/FLAIR, ADC không hạn chế khuếch tán rõ, SWI không xuất huyết, cộng hưởng từ mạch máu não (magnetic resonance angiography - MRA) không thấy hẹp - tắc các động mạch não nội sọ, tưới máu cân xứng hai bán cầu đại não, gợi ý CIE giả đột quỵ. BN được xử trí hỗ trợ: Bù dịch, corticosteroid, mannitol, chống co giật. Sau điều trị, BN hồi phục hoàn toàn, không có di chứng thần kinh. Do đó, cần nghĩ đến CIE sau DSA dù chức năng thận bình thường; MRI đa mô thức quyết định chẩn đoán phân biệt, tránh can thiệp không cần thiết.Tôn Nữ Trà MyĐặng Mạnh CườngTrần Đức TuấnBùi Tiến SĩNguyễn Tiến LongTrương Quang QuýPhan Thị Bé HuệHoàng Thị Phương ThảoLê Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51812613310.56535/jmpm.v51i8.2074NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2077
Mục tiêu: Mô tả thực trạng nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Thanh Nhàn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 1.581 hồ sơ bệnh án của người bệnh (NB) điều trị nội trú tại 4 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Thanh Nhàn, từ tháng 10/2023 - 3/2024. Chẩn đoán NKBV theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế. Kết quả: Tỷ lệ NKBV chung là 6,3%. Viêm phổi bệnh viện chiếm tỷ lệ cao nhất (55,6%), tiếp theo là nhiễm khuẩn tiết niệu và nhiễm khuẩn vết mổ (16,1%), nhiễm khuẩn huyết (12,2%). Căn nguyên vi sinh chính là Acinetobacter baumannii (34%), Klebsiella pneumoniae (24%) và Pseudomonas aeruginosa (10%). Giới tính nữ, mắc bệnh mạn tính, có bệnh kèm theo, thời gian nằm viện ≥ 10 ngày, điều trị tại khoa hồi sức tích cực có nguy cơ NKBV cao hơn. Kết luận: Tỷ lệ NKBV là 6,3%. Các yếu tố liên quan gồm giới tính, bệnh mạn tính, bệnh kèm theo, thời gian điều trị kéo dài và khoa điều trị.Nguyễn Thị Anh VânPhạm Thùy TrangVũ Nhị Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51813414210.56535/jmpm.v51i8.2077ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP CHUYỂN DẠNG XUẤT HUYẾT TRÊN PHIM CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1785
Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp (NMNC) có chuyển dạng xuất huyết (CDXH) được xác định trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ (CHT). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 54 BN NMNC được chụp CHT tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2023 - 4/2025. Kết quả: Các yếu tố dự báo nguy cơ CDXH gồm rung nhĩ (OR = 6,25; 95%CI: 1,203 - 32,467; p = 0,029); điểm NIHSS (OR = 0,964; 95%CI: 0,964 - 1,268; p = 0,15); bạch cầu neutrophil (OR = 1,037; 95%CI: 0,985 - 1,092; p = 0,163); thể tích vùng nhồi máu (OR = 1,00; 95%CI: 0,987 - 1,013; p = 0,988). Kết luận: Tỷ lệ CDXH thể nhồi máu xuất huyết (hemorrhagic infarction - HI) cao hơn so với thể máu tụ trong nhu mô (parenchymal hematoma - PH). Rung nhĩ là yếu tố liên quan độc lập với CDXH ở BN NMNC.Trần Thị Thuỳ LinhLê Quốc SơnTống Thị Bích HằngNguyễn Minh Hải
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51814315110.56535/jmpm.v51i8.1785KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 PHÁC ĐỒ ATEZOLIZUMAB KẾT HỢP BEVACIZUMAB TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN QUÁ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT: DỮ LIỆU ĐỜI THỰC ĐƠN TRUNG TÂM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 - 2026
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2085
Mục tiêu:Đánh giá kết quả điều trị phác đồ atezolizumab kết hợp bevacizumab trong điều trị bước 1 trên bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tế bào gan (hepatocellular carcinoma - HCC) quá chỉ định phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu thuần tập hồi cứu kết hợp theo dõi dọc trên 118 BN điều trị bước 1 bằng atezolizumab - bevacizumab tại Bệnh viện K từ tháng 02/2020 - 02/2026. Kết quả:Tuổi trung bình của BN là 57,5; nam giới chiếm 92,4%; tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B (HBV) là 65,3%; tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch cửa và di căn ngoài gan lần lượt là 63,6% và 56,8%. Trung vị thời gian theo dõi là 16 tháng. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) lần lượt là 16,2 tháng và 5,2 tháng. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 65,3% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 67,8%. Có 20,3% BN ghi nhận ít nhất một biến cố bất lợi; tăng men gan và xuất huyết tiêu hóa lần lượt gặp ở 11,0% và 5,1% BN. Kết luận:Phác đồ atezolizumab - bevacizumab cho thấy hiệu quả điều trị khả quan và tính an toàn chấp nhận được trong điều trị bước 1 trên BN HCC quá chỉ định phẫu thuật.Lê Thị YếnĐinh Thị Lan AnhLê Thị ThảoNguyễn Xuân ĐạiNguyễn Hoàng Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51815216110.56535/jmpm.v51i8.2085NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI CÓ ĐAU MẠN TÍNH
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2113
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống (CLCS) ở bệnh nhân (BN) cao tuổi có đau mạn tính. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có nhóm đối chứng trên 240 BN cao tuổi (≥ 60 tuổi) và 188 người < 60 tuổi có đau mạn tính được điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 4/2026. CLCS được đánh giá bằng thang điểm SF-36. Kết quả: Tổng điểm SF-36 ở nhóm BN cao tuổi thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm < 60 tuổi. Đa số BN cao tuổi có CLCS mức trung bình (93,75%). Các lĩnh vực suy giảm rõ rệt gồm hoạt động thể chất, hạn chế do sức khỏe thể chất, cảm giác đau, sức khỏe chung và chức năng xã hội. Phân tích đa biến cho thấy mức độ đau, tính chất đau kiểu điện giật và rối loạn lo âu liên quan có ý nghĩa thống kê với CLCS. Kết luận: Đau mạn tính làm suy giảm CLCS ở người cao tuổi, đặc biệt khi đau nặng, có tính chất đau thần kinh và kèm theo lo âu.Đường Minh TuấnPhạm Đại QuíNguyễn Quốc HoàngNguyễn Quang ÂnNguyễn Đức Thuận
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51816217010.56535/jmpm.v51i8.2113PHÌ ĐẠI TUYẾN CẬN GIÁP TRÊN SIÊU ÂM Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ CÓ NỒNG ĐỘ PTH HUYẾT TƯƠNG CAO TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2177
Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ phì đại tuyến cận giáp (PĐTCG) trên siêu âm và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân (BN) mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối được chỉ định lọc máu chu kỳ (LMCK) có nồng độ PTH (parathyroid hormone) huyết tương cao (> 300 pg/mL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, không đối chứng trên 56 BN LMCK, có nồng độ PTH huyết tương > 300 pg/mL, tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 5/2025 - 4/2026. Kết quả: Tỷ lệ PĐTCG ở BN LMCK có nồng độ PTH huyết tương cao là 66,1%, liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố tuổi > 50, nồng độ albumin thấp và nồng độ PTH > 600 pg/mL. Phân tích hồi quy logistic cho thấy nồng độ albumin thấp và PTH cao liên quan độc lập với PĐTCG (OR = 0,765; 95%CI: 0,588 - 0,995; p = 0,046 và OR = 1,002; 95%CI: 1,000 - 1,004; p = 0,018).Kết luận: Tỷ lệ PĐTCG ở BN LMCK có PTH huyết tương cao > 300 pg/mL là 66,1%, liên quan với tuổi cao, nồng độ albumin huyết tương thấp và PTH huyết tương cao.Nguyễn Thị Thu HàVõ Phạm Anh KiệtĐặng Minh HiểnNguyễn Hiệp HòaNguyễn Gia TríNguyễn Đức TrungPhan Bá Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51817117910.56535/jmpm.v51i8.2177ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CERITINIB ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN TIẾN XA, DI CĂN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2032
Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ đáp ứng khách quan (objective response rate - ORR) và thời gian điều trị (time on treatment - ToT) của bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa di căn (TXDC) có đột biến gene Anaplastic Lymphoma Kinase (ALK) với ceritinib bước 1; đánh giá một số tác dụng không mong muốn của thuốc. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập hồi cứu với 41 BN UTPKTBN giai đoạn TXDC mang đột biến gene ALK điều trị bước 1 với ceritinib từ năm 2021 - 2025 tại Bệnh viện Phổi Trung ương (BVPTW). Kết quả: Tuổi trung bình là 52,02 ± 12,09; tỷ lệ nam/nữ là 1,05/1. Tỷ lệ đáp ứng khách quanđạt 90,2%; trong đó ,đáp ứng một phần chiếm tỷ lệ cao nhất (75,6%); ToT trung vị là 28,48 (95%CI: 11,93 - 45,03) tháng. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là tiêu chảy (41,5%); có 27 BN tăng men gan (65,9%); chủ yếu là tăng độ I. Kết luận: Ceritinib điều trị bước 1 với BN UTPKTBN giai đoạn TXDC có đột biến gene ALK cho ORR cao (90,2%), ToT trung vị có giá trị tốt (28,48 tháng), tác dụng phụ thường ở mức độ nhẹ.Đinh Văn LượngĐinh Ngọc ViệtVũ Thị ThủyTạ Hùng MạnhVũ Ngọc QuyênNguyễn Trọng ĐạtPhương Ngọc Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51818018810.56535/jmpm.v51i8.2032KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 BẰNG OSIMERTINIB Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI MẮC UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN MUỘN CÓ ĐỘT BIẾN EGFR
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2086
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độc tính của osimertinib bước 1 ở bệnh nhân (BN) cao tuổi mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn muộn có đột biến EGFR. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 51 BN ≥ 65 tuổi mắc UTPKTBN, giai đoạn IIIC - IV, điều trị bước 1 bằng osimertinib tại Bệnh viện K từ tháng 5/2019 - 5/2025. Kết quả: Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 82,4% và kiểm soát bệnh đạt 96,1%. Ở nhóm di căn não, ORR đạt 76,2% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 100%. Trung vị sống thêm không tiến triển (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS) lần lượt là 26,7 tháng và 46,8 tháng; tỷ lệ PFS và OS tại thời điểm 3 năm tương ứng là 45,4% và 76,9%. Không ghi nhận yếu tố tiên lượng độc lập đối với OS trong phân tích đa biến. Độc tính chủ yếu độ 1 - 2, không ghi nhận độc tính độ 3 - 4; 1 trường hợp viêm phổi kẽ độ 1. Kết luận: Osimertinib bước 1 cho thấy hiệu quả cao và dung nạp tốt ở BN cao tuổi UTPKTBN giai đoạn muộn có đột biến EGFR.Đinh Thị Lan AnhLê Thị YếnNguyễn Hoàng Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51818919810.56535/jmpm.v51i8.2086SO SÁNH GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG TỬ VONG SAU 3 THÁNG CỦA THANG ĐIỂM HELSINKI VÀ ROTTERDAM Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2110
Mục tiêu:So sánh giá trị thang điểm Helsinki và Rotterdam trên phim chụp cắt lớp vi tính (computed tomography - CT) trong tiên lượng tử vong sau 3 tháng ở bệnh nhân (BN) chấn thương sọ não (CTSN) nặng.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, theo dõi dọc trên 110 BN CTSN nặng có điểm Glasgow (GCS) ≤ 8 được điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 6/2025 - 9/2025. Thu thập biến số và tính điểm theo thang điểm Helsinki và Rotterdam. Giá trị tiên lượng được đánh giá bằng đường cong ROC và phân tích Kaplan-Meier.Kết quả:Tuổi trung bình của BN là 44,4 ± 17,2; nam giới chiếm 82,7%. Tổn thương thường gặp nhất là xuất huyết dưới nhện (94,5%). Điểm trung bình của Rotterdam là 3,39 ± 1,6; Helsinki là 5,35 ± 3,5. Diện tích dưới đường cong (AUC) của thang điểm Rotterdam là 0,766 (95%CI: 0,68 - 0,85) và Helsinki là 0,760 (95%CI: 0,67 - 0,84), cho thấy giá trị tương đương. Với điểm cắt ≥ 4, thang điểm Rotterdam có độ đặc hiệu (Sp) cao hơn (77,1%), trong khi thang điểm Helsinki (với điểm cắt ≥ 5) có độ nhạy (Se) cao hơn (72,6%). Phân tích Kaplan-Meier cho thấy cả hai thang điểm đều phân tầng nguy cơ tử vong rõ rệt (p < 0,001); nhóm có điểm cao có tỷ lệ tử vong cao hơn và thời gian sống ngắn hơn.Kết luận:Cả hai thang điểm Helsinki và Rotterdam đều có giá trị tiên lượng tử vong 3 tháng với hiệu năng tương đương. Thang điểm Helsinki trội về Se và khả năng phân tầng nguy cơ, trong khi Rotterdam đơn giản và có Sp cao hơn.Lê Tuấn VũLê Thanh DũngNguyễn Đình Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51819920710.56535/jmpm.v51i8.2110KẾT QUẢ PHẪU THUẬT BENTALL Ở BỆNH NHÂN MẮC HỘI CHỨNG MARFAN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1999
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm và trung hạn của phẫu thuật Bentall ở bệnh nhân (BN) mắc hội chứng Marfan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca bệnh, không đối chứng trên 54 BN mắc hội chứng Marfan có phình hoặc tách thành động mạch chủ (ĐMC) kèm hở nặng van ĐMC được phẫu thuật Bentall tại Bệnh viện Trung ương Huế từ năm 2012 - 2022. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 34,2 (18 - 60 tuổi); nam giới chiếm 63,0%; phân độ suy tim trước mổ theo NYHA là 87,0% NYHA II; 13,0% NYHA III. Tổn thương phình ĐMC chiếm 88,9%; tách thành ĐMC chiếm 11,1%. Đường kính gốc ĐMC là 56,3 ± 6,5mm. Có 25,9% BN được thay van hai lá; 27,8% sửa van hai lá; 33,3% sửa van ba lá kết hợp. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (CEC) là 181,1 ± 15,4 phút; thời gian cặp ĐMC là 129,6 ± 14,1 phút. Thời gian thở máy là 19,9 ± 4,5 giờ. Biến chứng ghi nhận rối loạn nhịp tim, tổn thương thận cấp, biến chứng thần kinh lần lượt là 29,6%; 27,8% và 7,4%. Không có BN tử vong trong thời gian theo dõi. Kết luận: Phẫu thuật Bentall ở BN mắc hội chứng Marfan là phẫu thuật an toàn, mang lại kết quả tốt cho BN với tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp.Trần Hoài ÂnNguyễn Đức DũngVũ Đức ThắngPhan Quốc DũngTrần Thanh Thái NhânNguyễn Thế Kiên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51820821710.56535/jmpm.v51i8.1999ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIẢM GIAI ĐOẠN BỆNH SAU HÓA XẠ TRỊ TÂN BỔ TRỢ TRƯỚC PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THỰC QUẢN ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2054
Mục tiêu: Đánh giá kết quả giảm giai đoạn (GĐ) bệnh sau hóa xạ trị (HXT) tân bổ trợ trước phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt thực quảntrongđiều trị ung thư thực quản (UTTQ) và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 77 bệnh nhân (BN) UTTQ được HXT trước PTNS cắt thực quản tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01/2021 - 4/2026. Kết quả: Tỷ lệ giảm GĐ đạt 61,0% trong khi tỷ lệ không thay đổi và tăng GĐ lần lượt là 31,2% và 7,8%. Có 36,4% BN giảm xuống GĐ 0-I và 23,4% đạt đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (MBH). Tỷ lệ giảm GĐ T và N lần lượt là 70,1% và 54,5%; 57,1% BN đạt ypN0 sau phẫu thuật. Phân tích đơn biến cho thấy vị trí u, MBH và mức độ xâm lấn u trước điều trị có liên quan đến giảm GĐ (p < 0,05). Phân tích đa biến cho thấy u ở 1/3 giữa và mức độ xâm lấn u nông (cT0-2) là các yếu tố độc lập liên quan đến giảm GĐ bệnh sau điều trị (p < 0,05). Kết luận: HXT tân bổ trợ trước PTNS cắt thực quản cho tỷ lệ giảm GĐ cao. Vị trí u và mức độ xâm lấn u trước điều trị có giá trị dự báo giảm GĐ bệnh.Nguyễn Văn TiệpNguyễn Trọng HòeNguyễn Anh Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51821822510.56535/jmpm.v51i8.2054ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC RUỘT THỪA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 GIAI ĐOẠN 2020 - 2025
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2072
Mục tiêu: Đánh giá một số kết quả trong mổ và kết quả sớm điều trị viêm phúc mạc ruột thừa (VPMRT) bằng phẫu thuật nội soi (PTNS). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 105 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định VPMRT điều trị bằng PTNS tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 2020 - 2025. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước mổ, các chỉ tiêu trong phẫu thuật và kết quả sớm sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 43,4 ± 14,5, BN nam chiếm 56,2%, tỷ lệ bệnh lý kèm theo tương đối thấp. Phần lớn các ca phẫu thuật có thời gian < 60 phút (70,2%), tỷ lệ chuyển mổ mở là 0,9%. Biến chứng sớm sau mổ chiếm 7,7%, chủ yếu là nhiễm trùng lỗ trocar (2,8%). Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 6,3 ± 1,8 ngày. Kết quả sớm đạt loại tốt là 92,3%. Kết luận: PTNS là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị VPMRT, thời gian hồi phục nhanh, không gặp tai biến trong mổ, biến chứng sau mổ nhẹ và tỷ lệ thấp.Ngô Gia KhánhNoem Seryboth
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51822623410.56535/jmpm.v51i8.2072KẾT QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA CẮT HỚT NIÊM MẠC DƯỚI NƯỚC SO VỚI CẮT QUY ƯỚC TRONG ĐIỀU TRỊ POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG KHÔNG CUỐNG KÍCH THƯỚC TỪ 10 - 30mm
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2023
Mục tiêu: So sánh hiệu quả và độ an toàn của cắt hớt niêm mạc dưới nước (underwater endoscopic mucosal resection - UEMR) với cắt quy ước (conventional endoscopic mucosal resection - CEMR) trong điều trị polyp đại trực tràng (ĐTT) không cuống kích thước từ 10 - 30mm. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên, đối chứng, nhãn mở trên 178 bệnh nhân (BN) có polyp ĐTT không cuống kích thước từ 10 - 30mm, được điều trị bằng UEMR hoặc CEMR tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2024 - 12/2025. Các đặc điểm lâm sàng, nội soi, kỹ thuật và biến chứng được thu thập và so sánh giữa hai nhóm. Kết quả: Tỷ lệ cắt nguyên khối (NK) cao ở cả hai nhóm UEMR và CEMR (96,6% so với 92,1%; p > 0,05). Ở dưới nhóm kích thước polyp từ 20 - 30mm, UEMR cho tỷ lệ cắt NK cao hơn so với CEMR (91,3% so với 62,5%; p = 0,028). UEMR có thời gian thủ thuật ngắn hơn và tỷ lệ sử dụng clip cầm máu thấp hơn so với CEMR (p < 0,05). Tỷ lệ biến chứng thấp và tương đương giữa hai phương pháp. Kết luận: UEMR và CEMR đều là các phương pháp an toàn và hiệu quả trong trong điều trị polyp ĐTT không cuống kích thước từ 10 - 30mm. UEMR có xu hướng cải thiện tỷ lệ cắt NK (đặc biệt trong nhóm polyp có kích thước từ 20 - 30mm), thời gian thủ thuật và giảm nhu cầu sử dụng clip cầm máu, trong khi tỷ lệ biến chứng tương đương giữa hai phương pháp.Hoàng Minh TuấnBùi Thị Thanh NgaDương Quang Huy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51823524310.56535/jmpm.v51i8.2023BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: SỬ DỤNG XƯƠNG VÁCH NGĂN TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VẸO THÁP MŨI NẶNG
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2058
Vẹo tháp mũi là một thách thức trong phẫu thuật tạo hình mũi, đòi hỏi phẫu thuật viên phải giải quyết triệt để cả khiếm khuyết thẩm mỹ lẫn rối loạn chức năng thông khí. Chúng tôi báo cáo 1 trường hợp bệnh nhân (BN) nam, 26 tuổi, nhập viện vì biến dạng lệch trục tháp mũi và nghẹt mũi bên trái nghiêm trọng do tai nạn thể thao cách đây 14 năm. Qua thăm khám và hình ảnh học, BN được chẩn đoán vẹo tháp mũi trái nặng, vẹo vách ngăn trái và phì đại cuốn mũi dưới hai bên. BN được thực hiện phẫu thuật tạo hình cấu trúc toàn diện với bốn can thiệp đồng thời, gồm cắt chỉnh can xương mũi, tạo hình vách ngăn, nâng sống mũi bằng vật liệu nhân tạo Silastic và chỉnh hình cuốn mũi dưới. Trong đó, xương vách ngăn được sử dụng làm mảnh ghép để tạo hình vách ngăn và ổn định trục tháp mũi.Chiến lược phẫu thuật đa can thiệp giúp phục hồi sự cân xứng thẩm mỹ, cải thiện triệt để chức năng thở và đảm bảo sự ổn định cấu trúc tháp mũi lâu dài.Nguyễn Anh TuấnNguyễn Bá KhoaNguyễn Đức Vượng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51824425110.56535/jmpm.v51i8.2058TIẾP CẬN MỚI QUA ĐƯỜNG CẠNH HẦU TRONG PHẪU THUẬT UNG THƯ KHẨU HẦU
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2117
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả đường mổ cạnh hầu, tình trạng và kết quả bước đầu phẫu thuật ung thư khẩu hầu bằng kỹ thuật tiếp cận qua đường cổ. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả loạt ca bệnh trên 10 bệnh nhân (BN) ung thư khẩu hầu được phẫu thuật qua đường cạnh hầu tại Khoa Ngoại Đầu cổ - Tai mũi họng, Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2021 - 02/2025. Kết quả: BN được phẫu thuật cắt rộng khối bướu khẩu hầu cùng tổ chức xâm lấn có hoặc không tái tạo tức thì bằng vạt da - cơ. Tất cả BN không có biến chứng nặng sau mổ, phục hồi chức năng ăn nuốt tốt sau phẫu thuật, không tái phát. Kết luận: Phẫu thuật ung thư khẩu hầu qua đường cạnh hầu có thể đạt kết quả tốt về mặt chức năng, đồng thời đảm bảo phẫu thuật tận gốc trên BN ung thư khẩu hầu tiến triển hoặc tái phát.Nguyễn Việt DũngNguyễn Xuân Trực
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51825226010.56535/jmpm.v51i8.2117KHẢO SÁT LOẠN THỊ GIÁC MẠC THEO NGUYÊN LÝ SWEPT-SOURCE OPTICAL COHERENCE TOMOGRAPHY Ở BỆNH NHÂN ĐỤC THỂ THỦY TINH CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2166
Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm loạn thị giác mạc theo nguyên lý Swept-Source optical coherence tomography (SS-OCT) ở bệnh nhân (BN) đục thể thủy tinh và đánh giá mối liên quan giữa các thành phần loạn thị. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 247 mắt của 208 BN > 60 tuổi tại Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 7/2025 - 3/2026. Đo thông số trực tiếp bằng máy Anterion. Kết quả: Độ loạn thị tổng giác mạc (total corneal astigmatism - TCA) là 1,05 ± 0,74D, cao hơn độ loạn thị mặt trước giác mạc (anterior corneal astigmatism - ACA) là 0,91 ± 0,65D (p < 0,001). Độ loạn thị mặt sau giác mạc (posterior corneal astigmatism - PCA) là 0,29 ± 0,14D và đa số là loại loạn thị nghịch (96,4%), dẫn đến thay đổi độ TCA: Giảm 0,16D ở loạn thị thuận, tăng 0,34D và 0,12D ở loạn thị nghịch và loạn thị chéo; đồng thời, cũng làm thay đổi trục loạn, đặc biệt là nhóm loạn thị thuận và chéo ở mặt trước. Phân tích vector cho thấy loạn thị nghịch chiếm ưu thế ở nhóm đối tượng nghiên cứu (J0 là -0,25) và TCA liên quan chặt chẽ với ACA và liên quan ở mức độ trung bình với PCA. Kết luận: PCA có tác động quan trọng đến công suất TCA. Việc chỉ dựa vào các phép đo ACA sẽ gây sai số cả về độ và trục trong đánh giá loạn thị ở người cao tuổi.Nguyễn Đình NgânVõ Thị HằngTrương Hoàng Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51826126910.56535/jmpm.v51i8.2166ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI VI PHẪU ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ LÀNH TÍNH THANH QUẢN SỬ DỤNG THANG ĐIỂM VHI
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2041
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của bệnh lý lành tính thanh quản (BLLTTQ) và đánh giá kết quả phẫu thuật (PT) nội soi vi phẫu có sử dụng thang điểm VHI (voice handicap index) Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc trên 84 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán BLLTTQ và PT nội soi vi phẫu tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2025 - 02/2026. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và điểm VHI trước mổ, sau mổ 1 tháng. Kết quả: Tuổi trung bình là 44,13 ± 12,48; 61,9% BN là nữ; 67,8% có nghề nghiệp thường xuyên sử dụng giọng nói. Trước PT, 100% khàn tiếng, phổ biến nhất (81,0%) là khởi phát từ từ, 88,1% từng đợt, 90,5% ở mức độ vừa. Nội soi thanh quản thấy tổn thương chủ yếu khu trú ở 1/3 giữa dây thanh (51,2%) và một bên dây thanh (64,3%). Mô bệnh học thấy polyp dây thanh (33,3%), hạt xơ dây thanh (31,0%) và nang dây thanh (11,9%). Sau mổ 1 tháng, VHI trung bình giảm từ 41,67 xuống 4,17; 77,4% không còn khuyết tật giọng nói. Kết luận: PT nội soi vi phẫu điều trị BLLTTQ có hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kết quả VHI.Quản Thành NamPhạm Minh TuấnĐỗ Lan HươngQuản Thị TâmNghiêm Đức Thuận
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51827027810.56535/jmpm.v51i8.2041ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT RUỘT THỪA VIÊM TẠI VIỆN Y HỌC HẢI QUÂN
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1993
Mục tiêu:Mô tả đặc điểm hình thái và đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật điều trị viêm ruột thừa (VRT) cấp tại Viện Y học Hải quân.Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 203 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán VRT cấp và được phẫu thuật tại Khoa Ngoại chung - Sản, Viện Y học Hải quân từ tháng 01/2020 - 7/2025.Kết quả:Tuổi trung vị là 35 (24 - 52), nam giới chiếm đa số (65%). Thời gian từ khi khởi phát đến khi nhập viện là 15 (10 - 24) giờ. Phần lớn BN được chẩn đoán VRT cấp chưa biến chứng (95,5%). Thời gian phẫu thuật trung vị là 60 (50 - 90) phút và hồi phục nhu động ruột là 2 (1 - 2) ngày. Biến chứng sau mổ chiếm 3%. Kết quả điều trị sớm tốt đạt 96,1%. Phân tích hồi quy đa biến: Thời gian phẫu thuật kéo dài (OR = 1,042; p = 0,009) và VRT cấp có biến chứng (OR = 19,79; p = 0,025) là các yếu tố liên quan với kết quả điều trị không thuận lợi. Kết luận:VRT cấp chủ yếu gặp ở người trưởng thành và phần lớn được chẩn đoán ở giai đoạn chưa có biến chứng. Phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa là phương pháp được áp dụng chủ yếu trong điều trị VRT cấp tại Viện Y học Hải quân, có tính an toàn, hiệu quả cao, tỷ lệ biến chứng thấp và kết quả điều trị sớm tốt.Nguyễn Văn QuânLê Thế HùngTrần Doanh Hiệu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51827928710.56535/jmpm.v51i8.1993KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT CẮT KHỐI TÁ TỤY, PHỤC HỒI LƯU THÔNG DẠ DÀY - HỖNG TRÀNG THEO KIỂU ROUX-EN-Y
https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2021
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cắt khối tá tụy, phục hồi lưu thông dạ dày - hỗng tràng kiểu Roux-En-Y. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 289 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật cắt khối tá tụy, có phục hồi lưu thông tiêu hóa dạ dày - hỗng tràng kiểu Roux-En-Y từ tháng 01/2019 - 9/2024 tại Khoa Phẫu thuật Gan Mật Tụy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 57,8 ± 11,6, độ tuổi 40 - 60 chiếm 76,1%, tỷ lệ nam/nữ là 1,92 (nam giới chiếm 65,7%). Bệnh lý ác tính vùng quanh bóng Vater chiếm 83,1% (12 BN có hoá trị tiền phẫu). Có 19 BN (6,5%) liên quan đến tạo hình mạch máu do khối u xâm lấn. Thời gian phẫu thuật trung bình lần lượt là 204,4 ± 37,3 phút (mổ mở) và 372 ± 45 phút (mổ nội soi). Biến chứng rò tụy: Độ A là 24,2%, độ B là 16,2%, độ C là 4,5%; chậm lưu thông dạ dày ruột: 4,8%, rò mật: 3,5%, nhiễm trùng vết mổ: 4,2%. Thời gian đặt ống dẫn lưu trung bình là 8,4 ± 4,6 ngày. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 12,9 ± 6,5 ngày (dài nhất 22 ngày, ngắn nhất 7 ngày). Kết luận: Phẫu thuật cắt khối tá tụy với miệng nối dạ dày-hỗng tràng kiểu Roux-En-Y an toàn, hiệu quả, biệt lập với miệng nối tụy ruột, giúp BN vẫn duy trì ăn đường miệng khi có biến chứng rò tụy xảy ra.Hồ Văn LinhVũ Văn QuangVũ Ngọc ViênLê Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự
51828829810.56535/jmpm.v51i8.2021