https://jmpm.vn/index.php/jmpm/issue/feedTạp chí Y Dược học Quân sự2026-09-28T06:57:47+07:00Journal of Military Pharmaco-medicinetcydhqs@vmmu.edu.vnOpen Journal Systems<p>Học viện Quân y là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ngành Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng với 3 nhiệm vụ chính trị trung tâm là đào tạo cán bộ quân y các cấp, đội ngũ nhân viên y tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; điều trị và nghiên cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học quân sự; không ngừng phấn đấu với vị trí của một trong những trường đại học y dược hàng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong các lĩnh vực y học quân sự và y học chung của quốc gia và quốc tế.</p> <p>Tạp chí Y Dược học Quân sự là cơ quan ngôn luận thông tin về các hoạt động của Học viện Quân y, trực thuộc Ban Giám đốc Học viện; được cấp Giấy phép hoạt động báo chí số 345/GP-BVHTT ngày 08/8/2002 và xuất bản 02 tháng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn có thể trao đổi với các đồng nghiệp trên toàn thế giới về thành tựu nghiên cứu y học, Tạp chí Y Dược học Quân sự đã đề nghị Tổng cục Chính trị cho phép tạp chí được đưa các bài viết đã đăng tải lên mạng internet và đã được sự đồng ý của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị (theo công văn số 440/VP của Văn phòng Tổng cục ngày 16/5/2005). Đây là bước phát triển quan trọng của Tạp chí Y Dược học Quân sự, tạo điều kiện cho tạp chí được trao đổi với các tạp chí có uy tín trên thế giới. Ngày 21/06/2006, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ngày 6/5/2026, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu tiên cho tới nay, Tạp chí Y Dược Quân sự đã được cấp phép sửa đổi nâng kỳ xuất bản lên 12 số/năm, trong đó có 10 số tiếng Việt và 02 số tiếng Anh (Giấy phép hoạt động báo chí số 1149/GP-BTTTT năm 2012 và số 594/GP-BTTTT năm 2022 và Công văn số 3201/BVHTTDL-BC ngày 03 tháng 6 năm 2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và các số Tạp chí đặc biệt cho các Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm nâng cao chất lượng tạp chí hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp chí đã xây dựng website riêng để xuất bản online và gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi bài báo, đồng thời đã thực hiện phản biện kín 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi bài báo.</p> <p>Tạp chí Y Dược học quân sự luôn nỗ lực khẳng định thương hiệu của mình, đóng góp tích cực phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị. Tạp chí Y Dược học quân sự thực sự trở thành cơ quan ngôn luận về chuyên môn khoa học, đào tạo và điều trị của Học viện Quân y, sát cánh cùng các đơn vị trong đội hình Học viện viết nên những trang vàng thành tích hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện Quân y.</p>https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2130PHỤC HỒI CHỨC NĂNG, LUYỆN TẬP THỂ LỰC VÀ ÂM NGỮ TRỊ LIỆU TRONG BỆNH PARKINSON2026-05-31T08:43:42+07:00Phan Thành Tàitaidoctorck1@gmail.comParkinson là bệnh thoái hóa thần kinh tiến triển, gây suy giảm chức năng vận động, thăng bằng, giao tiếp, nuốt và chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu tổng quan nhằm phân tích vai trò của phục hồi chức năng, luyện tập thể lực và âm ngữ trị liệu trong quản lý toàn diện bệnh Parkinson, đồng thời gợi ý ứng dụng phù hợp trong thực hành lâm sàng. Tài liệu được tổng hợp theo phương pháp tổng quan tường thuật từ các hướng dẫn thực hành, tổng quan hệ thống, phân tích gộp và thử nghiệm lâm sàng về vật lý trị liệu, luyện tập thể lực, phục hồi dáng đi - thăng bằng, âm ngữ trị liệu, quản lý nuốt và phục hồi từ xa. Các bằng chứng hiện có ủng hộ việc triển khai phục hồi chức năng sớm, liên tục và cá thể hóa. Luyện tập hiếu khí, sức mạnh, thăng bằng, huấn luyện dáng đi, chiến lược gợi ý ngoài, liệu pháp giọng nói Lee Silverman cường độ cao (Lee Silverman voice treatment LOUD - LSVT LOUD) và phục hồi từ xa có vai trò khác nhau theo giai đoạn bệnh, triệu chứng nổi bật và điều kiện tiếp cận dịch vụ. Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, có thể ưu tiên gói can thiệp cốt lõi gồm giáo dục tự quản lý, chương trình luyện tập tại nhà, đánh giá nguy cơ té ngã, sàng lọc nói - nuốt và chuyển tuyến khi cần.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2157MỐI LIÊN QUAN GIỮA HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VỚI HÌNH ẢNH NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN VIÊM XOANG MẠN TÍNH2026-06-03T05:33:20+07:00Phùng Anh Tuấnphunganhtuanbv103@gmail.comTrần Việt HoànMục tiêu: Đối chiếu hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) và hình ảnh nội soi ở bệnh nhân (BN) viêm xoang mạn tính. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 58 BN viêm xoang mạn tính được nội soi, chụp CLVT và điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. So sánh đặc điểm hình ảnh, mức độ viêm xoang mạn tính ở hai phương pháp bằng hệ số Kappa. Kết quả: Hai phương pháp có mức độ phù hợp khá trong đánh giá tình trạng tắc nghẽn phức hợp lỗ ngách (Kappa = 0,65) và phù hợp kém trong đánh giá mức độ viêm xoang mạn tính (Kappa = 0,37). Sự phù hợp giữa hình ảnh nội soi và chụp CLVT dao động từ kém đến khá trong đánh giá các thành phần khác nhau của hốc mũi (Kappa = 0,24 - 0,65). Kết luận: Hình ảnh nội soi và chụp CLVT có sự phù hợp dao động từ kém đến khá trong đánh giá tổn thương viêm xoang mạn tính.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2168MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM BIẾN THỂ GENE TP53 VÀ GENE PIK3CA VỚI ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA KHỐI U Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ2026-05-22T14:59:36+07:00Vũ Ngọc Hàngochaditruyen@gmail.comTạ Hồng Hải Đăngtahaidang@hmu.edu.vnNguyễn Ngọc Phươngpika.hmu@gmail.comVũ Thị Lan Anhvuthilananh0409@gmail.comĐinh Thị Phương Anhanhdtp@dainam.edu.vnHoàng Xuân Cườnghoangxuancuong@vmmu.edu.vnNguyễn Xuân Hậudrnguyenxuanhau@gmail.comPGS.TS Phạm Cẩm Phươngphamcamphuong@gmail.comNguyễn Thị Trangtrangnguyen@hmu.edu.vnMục tiêu: Mô tả phổ đột biến gene TP53, PIK3CA và phân tích mối liên quan của chúng với các đặc điểm sinh học của khối u ở bệnh nhân (BN) ung thư vú (UTV) người Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 139 BN được chẩn đoán xác định UTV dựa trên lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả giải phẫu bệnh tại Bệnh viện K từ tháng 7/2025 - 4/2026. Các biến thể di truyền được xác định bằng phương pháp giải trình tự thế hệ mới (NGS) và được phiên giải theo tiêu chuẩn của ClinGen/CGC/VICC. Kết quả: 60% BN mang ít nhất một đột biến, với 14% mang đồng thời cả hai gene. Đột biến sai nghĩa chiếm ưu thế ở cả gene TP53 (60,7%) và gene PIK3CA (91,7%). Đột biến TP53 mất chức năng (loss-of-function - LOF) liên quan đến tuổi chẩn đoán trẻ hơn (trung vị 42 tuổi) và nguy cơ có chỉ số Ki67 > 50% cao gấp 2,73 lần, trong khi đó, đột biến sai nghĩa TP53 liên quan đến odds ER, PR dương tính thấp hơn so với nhóm không mang biến thể TP53. Ngược lại, đột biến PIK3CA miền Helical liên quan chặt chẽ đến việc tăng bộc lộ thụ thể nội tiết estrogen (ER) và progesterone (PR). Kết luận: Các biến thể gene TP53 và PIK3CA có mối liên quan mật thiết đến kiểu hình sinh học của khối u.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2135NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN2026-05-27T08:56:12+07:00Nguyễn Văn Tấumedical109vp@gmail.comNguyễn Xuân Kháidrxuankhai103@gmail.comTrần Công Hoantchoanvd@yahoo.comNguyễn Minh Châuchaunguyenm167@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh và đánh giá giá trị của cộng hưởng từ (MRI) trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan(hepatocellular carcinoma - HCC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu, có đối chiếu giải phẫu bệnh (GPB) trên 196 bệnh nhân (BN) có tổn thương gan khu trú được chụp MRI tại Bệnh viện K, cơ sở Tân Triều từ tháng 6 - 12/2025. Kết quả: GPB xác định 122 BN HCC và 74 BN có tổn thương không phải HCC (non-HCC). HCC thường là một u (68,03%), ưu thế thùy phải (61,48%), kích thước trung vị là 4,5cm. Dấu hiệu nổi bật gồm tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W (T2-weighted) (97,54%), giảm tín hiệu T1W (T1-weighted) (93,44%), tăng tín hiệu khuếch tán trên DWI (Diffusion-weighted imaging) (95,90%), hạn chế khuếch tán thật sự (78,69%), tăng ngấm thuốc thì động mạch (arterial phase hyperenhancement - APHE) không viền (95,08%), thải thuốc thì muộn (81,15%) và vỏ khối u (51,64%). MRI có độ nhạy là 87,70%, độ đặc hiệu là 87,84%, giá trị dự báo dương tính là 92,24%, giá trị dự báo âm tính là 81,25%, độ chính xác là 87,76% và AUC là 0,878. Kết luận: MRI có giá trị tốt trong chẩn đoán HCC; các đặc điểm hình ảnh nổi bật là APHE không viền, thải thuốc thì muộn, tăng tín hiệu T2W, giảm tín hiệu T1W và tăng tín hiệu DWI/hạn chế khuếch tán.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2128CÂY QUYẾT ĐỊNH PHÂN BIỆT U THẦN KINH ĐỆM BẬC CAO, DI CĂN NÃO ĐƠN Ổ VÀ LYMPHO NÃO NGUYÊN PHÁT TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ ĐA THÔNG SỐ2026-06-17T02:51:17+07:00Nguyễn Duy Hùngnguyenduyhung1612@gmail.comLê Thị Hồng PhươngLê Thanh DũngMục tiêu: Xây dựng mô hình cây quyết định (decision tree) dựa trên cộng hưởng từ khuếch tán sức căng (diffusion tensor imaging - DTI), tưới máu (magnetic resonance perfusion - MRP) và phổ (magnetic resonance spectroscopy - MRS) để phân biệt u thần kinh đệm bậc cao (high-grade glioma - HGG), u di căn não đơn ổ (solitary brain metastasis - SBM) và u lympho não nguyên phát (primary central nervous system lymphoma - PCNSL). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 64 bệnh nhân (BN) (23 PCNSL, 17 SBM, 24 HGG) được chụp cộng hưởng từ (CHT) trước phẫu thuật/sinh thiết tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 8/2025 - 3/2026. Định lượng hệ số bất đẳng hướng (FA) và hệ số khuếch tán trung bình (MD), thể tích tưới máu tương đối (rCBV) và lưu lượng tưới máu tương đối (rCBF) và tỷ lệ Cho/NAA, Cho/Cr tại vùng u đặc (t) và quanh u (p). Xây dựng mô hình bằng thuật toán CART (classification and regression tree). Kết quả: Thuật toán CART sử dụng rCBVp, MDt và Cho/NAAp làm nút phân loại. Nhánh rCBVp > 1,043 có khả năng dự báo HGG cao (94,7%). Với nhánh rCBVp £ 1,043, ngưỡng MDt (0,785) và Cho/NAAp (0,726) giúp phân biệt SBM và PCNSL. Độ chính xác (AC) tổng thể của mô hình đạt 76,6% (PCNSL: 84,4%; HGG: 79,7%; SBM: 89,1%), với sai số kiểm định chéo là 35,9%. Kết luận: Mô hình CART tích hợp rCBVp, MDt và tỷ lệ Cho/NAAp là công cụ tiềm năng, có độ chính xác cao trong chẩn đoán phân biệt HGG, SBM và PCNSL.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2176KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM DI TRUYỀN CỦA THAI NHI TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN NĂM 20252026-05-27T03:26:06+07:00Lê Hoài Anhlehoaianhbsdk@gmail.comTrần Anh Tútrananhtubvgtvinh@gmail.comNgô Văn Cảnhcanhbsdk@gmail.comVũ Thị Hàvuthiha@hmu.edu.vnMục tiêu: Đánh giá kết quả xét nghiệm di truyền của thai nhi trong chẩn đoán trước sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 422 thai phụ có chỉ định chọc ối để chẩn đoán trước sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ ngày 01/01 - 31/12/2025. Mẫu dịch ối được làm đồng thời xét nghiệm phân tích nhiễm sắc thể đồ (karyotype) và giải trình tự biến thể số lượng bản sao (CNV-seq). Kết quả: Tỷ lệ phát hiện bất thường di truyền chung khi phối hợp hai phương pháp là 27,25%. Trong đó, tỷ lệ phát hiện bất thường bằng CNV-seq là 26,78%, cao hơn so với karyotype là 18,96%. Kỹ thuật CNV-seq phát hiện tổng cộng 38 bất thường cấu trúc vi mất đoạn và vi lặp đoạn nhiễm sắc thể (NST) ở 35 trường hợp mà karyotype không phát hiện được. Karyotype phát hiện 2 bất thường cấu trúc cân bằng mà CNV-seq không phát hiện được. Kết luận: Sử dụng phối hợp các xét nghiệm di truyền giúp tăng khả năng phát hiện các bất thường di truyền của thai nhi, góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu trong chẩn đoán trước sinh.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2109THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIỆT SỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ KHỐI HỒI SỨC VÀ CẤP CỨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG2026-06-14T09:32:28+07:00Lý Quốc Trungbstrungbvsn@gmail.comChung Tấn ĐịnhHuỳnh Lan PhươngLý Phi HưngNguyễn Ngọc TrangĐỗ Thị Bích TrânMục tiêu: Mô tả thực trạng kiệt sức nghề nghiệp (KSNN) và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến KSNN của nhân viên y tế (NVYT) khối hồi sức và cấp cứu tại các bệnh viện và trung tâm y tế công lập. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 331NVYT có thời gian công tác > 6 tháng trong khối hồi sức và cấp cứu tại các bệnh viện và trung tâm y tế công lập trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng từ tháng 12/2024 - 01/2026. KSNN được mô tả theo thang đo Maslach (MBI). Kết quả:Tỷ lệ kiệt sức tinh thần ở mức cao là 25,7%, thái độ tiêu cực ở mức cao là 29,6% và giảm thành tích cá nhân là 11,8%. Nam giới có nguy cơ kiệt sức cao hơn nữ giới (aOR = 1,979; 95%CI: 1,252 - 3,129; p = 0,003). Kết luận:Tình trạng KSNN hiện diện ở mức đáng kể, đặc biệt tập trung ở nam giới. Cần triển khai các biện pháp hỗ trợ sức khỏe tinh thần và thể chất phù hợp.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2102ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỆ SINH TAY CỦA ĐIỀU DƯỠNG KHỐI NỘI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103, NĂM 20252026-06-19T06:47:33+07:00Trịnh Hữu Nghĩaksnkbv103@gmail.comNguyễn Bá Hoài Việtviet09041996@gmail.comBùi Ngọc Hàbsbuingocha@gmail.comNguyễn Thị NhungNguyenbanhung1985@gmail.comNguyễn Thị Thuỳ Dungnguyendung30595@gmail.comTạ Thị Hồng Quyêntathihongquyen2011991@gmail.comĐoàn Thị Linhdoanlynh1234@gmail.comNguyễn Thanh Sơnnguyenthanhson12390@gmail.comMục tiêu: Đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành vệ sinh tay (VST) và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng khối nội (ĐDKN). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 279 ĐDKN tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2024 - hết tháng 9/2025. Tổng số có 3.768 cơ hội VST theo 5 thời điểm của WHO. Đánh giá kiến thức bằng bộ câu hỏi. Kết quả: Điểm trung bình kiến thức là 20,82 ± 4,16/30; trong đó, phần lớn điều dưỡng có kiến thức ở mức trung bình (50,5%). Tỷ lệ tuân thủ VST chung đạt 85,1% (95%CI: 84,0 - 86,2). Chất lượng thực hành còn hạn chế, với tỷ lệ thực hiện đúng kỹ thuật là 36,4% và đủ thời gian là 44,2%. Tỷ lệ tuân thủ khác nhau theo thời điểm, cao nhất là sau khi tiếp xúc với máu/dịch tiết (96,4%) và thấp nhất là sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh người bệnh (NB) (62,2%). Sự khác biệt về tỷ lệ tuân thủ cũng được ghi nhận giữa các khoa. Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ VST đạt 85,1%, tuy nhiên, chất lượng thực hành còn hạn chế (đúng kỹ thuật: 36,4%; đủ thời gian: 44,2%). Điểm kiến thức trung bình đạt 20,82 ± 4,16/30, với 21,5% ở mức kém. Kết quả cho thấy cần tăng cường giám sát, cải thiện kỹ thuật thực hành và kiến thức VST cho ĐDKN nói riêng, nhân viên y tế (NVYT) nói chung.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2269NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HỒNG CẦU LƯỚI MÁU NGOẠI VI VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC VÀ SINH HOÁ Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-07-15T01:16:48+07:00Nguyễn Thị Trangtrangthannong0511@gmail.comNguyễn Thị Thu Hàdrthuha103@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm hồng cầu lưới máu ngoại vi và khảo sát mối liên quan với một số chỉ số huyết học và sinh hóa ở người bệnh (NB) lọc máu chu kỳ (LMCK). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích trên 69 NB LMCK tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2025 - 6/2026. Các xét nghiệm hồng cầu lưới được thực hiện trước buổi lọc thứ 2 trong tuần, trên máy UniCel DxH 600. Tính toán chỉ số sản xuất hồng cầu lưới hiệu chỉnh (reticulocyte production index - RPI) và chỉ số kích thước hồng cầu lưới (red blood cell size factor - Rsf). Kết quả: RPI trung vị là 0,63; Rsf trung vị là 52,47. RPI tương quan thuận với hemoglobin (Hb) , thể tích trung bình hồng cầu (MCV), lượng Hb trung bình hồng cầu (MCH) và tương quan nghịch với creatinine. Rsf có tương quan thuận với Hb, hematocrit, MCV, MCH, sắt huyết thanh, ferritin và tương quan nghịch với CRP. Kết luận: Ở NB LMCK, RPI thấp gợi ý đáp ứng sinh hồng cầu chưa tương xứng với tình trạng thiếu máu. RPI và Rsf có thể được sử dụng như các chỉ số hỗ trợ đánh giá thiếu máu ở NB LMCK; trong đó, RPI phản ánh đáp ứng sinh hồng cầu, Rsf liên quan đến tình trạng viêm và dự trữ sắt.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2142MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÌNH TRẠNG ĐAU LAN TỎA, MỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG BỆNH VÀ KHUYẾT TẬT CHỨC NĂNG TRONG VIÊM KHỚP DẠNG THẤP2026-05-13T08:34:35+07:00Lê Ngọc Diệpngocdiep0625@gmail.comNguyễn Thị Phương Thủyphuongthuybm@yahoo.comBùi Hải Bìnhbsbinhnt25noi@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm của tình trạng đau lan tỏa ở bệnh nhân (BN) viêm khớp dạng thấp (VKDT) bằng bộ câu hỏi Generalized Pain Questionnaire (GPQ); và khảo sát mối liên quan giữa tình trạng đau lan tỏa với mức độ hoạt động bệnh và khuyết tật chức năng (KTCN) ở nhóm BN nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 81 BN được chẩn đoán VKDT theo tiêu chuẩn của ACR/EULAR 2010, điều trị tại Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2025 - 3/2026. Kết quả:Tỷ lệ đau lan tỏa ở nhóm BN nghiên cứu khi khảo sát theo bộ câu hỏi GPQ là 17,3% (14/81 BN). Nhóm BN này trẻ tuổi hơn, có mức độ hoạt động bệnh, tỷ lệ sử dụng corticosteroid cao hơn và chỉ số đánh giá mức độ KTCN HAQ-DI cũng cao hơn. Các mối liên quan đều có ý nghĩa thống kê.Kết luận: Sàng lọc sớm tình trạng đau lan tỏa có ý nghĩa rất quan trọng trong đánh giá đau và định hướng điều trị để nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2064MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐỘ DÀY LỚP NỘI TRUNG MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN MẮC HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN TÍNH2026-06-01T09:28:03+07:00Phạm Trường Sơnptson108@gmail.comTS Lê Văn Dũngdrledung.tm@gmail.comNguyễn Thị Kiều Lynklyrose@gmail.comĐinh Công Phodinhcongphohvqy@gmail.comMục tiêu:Đánh giá mối liên quan giữa độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh (carotid intima-media thickness - CIMT) và mức độ tổn thương động mạch vành (ĐMV) ở bệnh nhân (BN) mắc hội chứng ĐMV mạn tính.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 160 BN mắc hội chứng ĐMV mạn tính đượcchụp ĐMV và siêu âm động mạch cảnh hai bên để đánh giá CIMT tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang từ tháng 3/2019 - 3/2023. BN được phân tầng thành hai nhóm: Nhóm có dày CIMT (≥ 0,9mm) và nhóm CIMT bình thường (< 0,9mm). Kết quả: Tỷ lệ nhóm có dày CIMT chiếm 55%. Nhóm có dày CIMT có phân suất tống máu thất trái (LVEF) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm CIMT bình thường (73,5 ± 8,5% so với 68,7 ± 10,6%; p = 0,002). Nhóm có dày CIMT có tỷ lệ tổn thương ĐMV ≥ 2 nhánh cao hơn (63,6% so với 47,2%; p = 0,04), điểm SYNTAX trung bình cao hơn (18,85 ± 13,62 so với 13,62 ± 10,86; p = 0,007), cũng như điểm Gensini trung bình cao hơn (44,66 ± 42,40 so với 29,92 ± 30,14; p = 0,030) so với nhóm CIMT bình thường. Kết luận: CIMT tăng có liên quan với mức độ tổn thương ĐMV, phản ánh tổn thương nhiều nhánh và điểm SYNTAX, điểm Gensini cao hơn.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2167ĐẶC ĐIỂM KIỂU HÌNH PHÂN BỐ THÔNG KHÍ VÙNG PHỔI THEO CẮT LỚP TRỞ KHÁNG LỒNG NGỰC Ở BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP CẤP TIẾN TRIỂN2026-05-22T14:35:53+07:00Đinh Văn Trungdinhvantrung.ptgh@gmail.comBùi Thị Hương Gianggiangbth2008@gmail.comĐỗ Ngọc Sơnsonngocdo@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm kiểu hình thông khí vùng phổi theo cắt lớp trở kháng lồng ngực (electrical impedance tomography - EIT) và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục điều trị ở bệnh nhân (BN) mắc hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (acute respiratory distress syndrome - ARDS). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, theo dõi dọc trên BN ARDS được theo dõi bằng EIT tại Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2024 - 02/2026. Phân bố thông khí được đánh giá qua TVA, TVP, TVR, TVL tương ứng với thông khí vùng trước, sau, phải và trái; tỷ số A/P. Theo TVP, phân thành 3 kiểu hình: Kiểu hình 1 giảm thông khí vùng sau, TVP < 40%; kiểu hình 2 thông khí vùng sau bảo tồn, TVP từ 40 - 50%; và kiểu hình 3 tăng thông khí vùng sau, TVP > 50%. Kết quả: Trong 66 BN, thông khí vùng phổi không đều, ưu thế vùng trước với TVA chiếm 63,0%; giảm vùng sau với TVP là 37,0%; tỷ số A/P là 1,7. Kiểu hình 1 chiếm đa số (59,1%), kiểu hình 2 (28,8%) và kiểu hình 3 (12,1%). Kiểu hình 1 có tỷ lệ ARDS nặng cao hơn, độ giãn nở phổi thấp hơn, áp lực đẩy và áp lực cao nguyên cao hơn; trong khi kiểu hình 3 có chỉ số PaO2/FiO2 cao hơn. Kết luận: EIT giúp phân loại kiểu hình, bổ sung thông tin về phân bố thông khí vùng phổi ở BN ARDS.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2039ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TRƯỚC VIỆN Ở BỆNH NHÂN NGỪNG TIM NGOẠI VIỆN KHÔNG DO CHẤN THƯƠNG2026-04-13T04:12:20+07:00TS Nguyễn Đắc Khôindackhoi@gmail.comĐặng Văn Badrdangba@gmail.comĐỗ Mạnh HùngDomanhhungpt95@gmail.comHoàng Tích LộcLê Tiến DũngPhạm Thái Dũngdzungdoctor@gmail.comĐào Trọng PhúcPhùng Việt ChiếnNguyễn Thị Kiều DiễmVũ Minh DươngBsminhduonghscc103@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố trước viện ở bệnh nhân (BN) ngừng tim ngoại viện (out-of-hospital cardiac arrest - OHCA) không do chấn thương. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 120 BN được chẩn đoán OHCA không do chấn thương tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2023 - 9/2025. Kết quả: BN OHCA chủ yếu là nam (68,3%), > 60 tuổi (57,5%), nguyên nhân gây ngừng tim thường gặp nhất là bệnh lý hô hấp và bệnh lý tim mạch, với tỷ lệ lần lượt là 35,8% và 30,8%. Tỷ lệ tử vong chiếm 87,5%. 65% BN ngừng tim đều có người chứng kiến, nhưng chỉ 20% được cấp cứu tại chỗ và 23,3% được vận chuyển tới bệnh viện bằng xe cứu thương. Thời gian trung bình từ khi bắt đầu hồi sức tim phổi (cardiopulmonary resuscitation -CPR) tới khi có tái lập tuần hoàn tự nhiên lần đầu (return of spontaneous circulation -ROSC) là25,2 ± 15,9 phút. 25% BN có nhịp có thể sốc điện. 88,3% BN khi đến viện đều trong tình trạng hôn mê sâu, thang điểm Glasgow (GCS) từ 3 - 5. Tất cả BN đều có suy ≥ 2 tạng. Kết luận: Bệnh lý hô hấp và tim mạch là nguyên nhân thường gặp nhất gây OHCA. Tỷ lệ cấp cứu tại chỗ và vận chuyển bằng xe cứu thương thấp. BN đến viện trong tình trạng hôn mê sâu và suy đa tạng dẫn đến tỷ lệ tử vong do OHCA rất cao (87,5%).Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2180KẾT QUẢ SỐNG CÒN DÀI HẠN VÀ TIÊN LƯỢNG UNG THƯ TUYẾN GIÁP BIỆT HÓA DI CĂN PHỔI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ I-1312026-06-01T01:38:27+07:00Ngô Văn ĐànLê Quốc Khánhlequockhanh108@gmail.comTrần Bá KhoaMai Huy ThôngNguyễn Thị PhươngNguyễn Thanh HảiLê Ngọc HàMục tiêu: Đánh giá kết quả sống còn dài hạn và các yếu tố tiên lượng thời gian sống toàn bộ (overall survival - OS) ở bệnh nhân (BN) ung thư tuyến giáp biệt hóa(UTTGBH) di căn phổi được điều trị I-131. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 165 BN UTTGBH di căn phổi, điều trị I-131 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 8/2004 - 3/2026. Tỷ lệ OS và các yếu tố tiên lượng độc lập được phân tích bằng phương pháp Kaplan-Meier và mô hình hồi quy Cox. Kết quả: Thời gian theo dõi trung bình đạt 91,8 ± 49,4 tháng. Tỷ lệ OS tại thời điểm 5 năm và 10 năm kể từ khi chẩn đoán di căn phổi lần lượt là 96,4% và 78,4%. Phân tích đa biến xác định 3 yếu tố tiên lượng độc lập làm tăng nguy cơ tử vong: Tuổi ≥ 55 (HR = 10,49; p < 0,001), mô bệnh học không phải thể nhú (thể nang, thể kém biệt hóa) (HR = 5,16; p = 0,020) và phát hiện di căn muộn > 6 tháng (HR = 3,24; p = 0,040). Kết luận:Tỷ lệ OS ở BN UTTGBH di căn phổi điều trị I-131 tương đối tốt. Tuổi ≥ 55, mô bệnh học không phải thể nhú và phát hiện di căn muộn là các yếu tố độc lập dự báo tiên lượng xấu.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2035KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TÁO BÓN CHỨC NĂNG Ở TRẺ EM THEO PHÁC ĐỒ CÓ LACTULOSE TẠI BỆNH VIỆN NHI THÁI BÌNH2026-05-26T06:24:00+07:00Trịnh Thị Hải Linhtrinhthihailinhnhitb@gmail.comNguyễn Thị Việt Hàvietha@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thuỳ Trangthuytrang198210@gmail.comPhí Thị Quỳnh AnhPhiquynhanhent@gmail.comLưu Thị HoaLuuhoa225@gmail.comTrương Thị Phương Maibsmaiytb@gmail.comMục tiêu:Đánh giá kết quả điều trị táo bón chức năng (TBCN) bằng phác đồ có lactulose và mô tả một số yếu tố liên quan ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không đối chứng trên 86 trẻ từ 1 - 6 tuổi được chẩn đoán TBCN theo ROME IV, điều trị tại Bệnh viện Nhi Thái Bình từ ngày 01/6/2024 - 31/5/2025. Trẻ được dùng phác đồ có lactulose, kết hợp tư vấn bổ sung lượng nước, chất xơ và huấn luyện đại tiện; kết quả được đánh giá sau 3 tháng. Kết quả:Sau 3 tháng, 68/86 (79,1%) trẻ đáp ứng tiêu chí điều trị. Trong phân tích đơn biến, tình trạng không đáp ứng điều trị được ghi nhận liên quan với lượng dịch nạp vào ≤ 80% nhu cầu (OR = 32,0; 95%CI: 7,8 - 130,7), lượng chất xơ ≤ 80% nhu cầu (OR = 173,3; 95%CI: 26,7 - 1125,7) và không duy trì thói quen đại tiện hằng ngày (OR = 9,4; 95%CI: 2,9 - 30,7). Kết luận: Phác đồ điều trị TBCN có lactulose kết hợp với điều chỉnh lối sống ghi nhận tỷ lệ đáp ứng điều trị đạt 79,1% sau 3 tháng. Lượng dịch nạp vào và chất xơ đạt ≤ 80% nhu cầu, cùng với việc không duy trì thói quen đại tiện hằng ngày, là các yếu tố có liên quan đến không đáp ứng điều trị trong phân tích đơn biến.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2201TỶ LỆ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TIỂU CẦU VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI BIẾN CỐ HUYẾT KHỐI Ở BỆNH NHÂN OXY HÓA MÁU QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ2026-06-24T03:27:44+07:00Trần Thanh Linhthanhlinhcr@gmail.comLê Hữu Thiện Biênbien.le@umc.edu.vnPhạm Thị Ngọc Thảothaocrh10@yahoo.comMục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn chức năng tiểu cầu (RLCNTC) và khảo sát mối liên quan giữa RLCNTC với biến cố huyết khối ở bệnh nhân (BN) được can thiệp oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể (extracorporeal membrane oxygenation - ECMO). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, đơn trung tâm thực hiện trên 54 BN ≥ 16 tuổi được hỗ trợ ECMO tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 3/2023 - 3/2026. Những BN này được đánh giá chức năng tiểu cầu bằng PFA-200 (qua thời gian đóng Col/Epi và Col/ADP) tại 4 thời điểm: trước ECMO (T0), sau 24 giờ (T1), sau 72 giờ (T2) và sau rút ECMO 12 - 24 giờ (T3). Kết quả: Trong 54 BN được đưa vào nghiên cứu, có 25 BN (46,3%) xuất hiện biến cố huyết khối. Tỷ lệ RLCNTC chung tại các thời điểm T0, T1, T2 và T3 lần lượt là 38,9%, 98,1%, 98,1% và 44,4%. Giá trị Col/Epi và Col/ADP tăng rõ trong quá trình chạy ECMO và giảm sau khi rút ECMO. Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm huyết khối và không huyết khối về Col/Epi, Col/ADP ở tất cả các thời điểm khảo sát. Kết luận:RLCNTC thường gặp trong quá trình chạy ECMO và giảm sau khi rút ECMO. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa RLCNTC và biến cố huyết khối.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2129NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC VÀ Ý NGHĨA CỦA CHỤP PHÂN TÍCH DA TRONG UNG THƯ TẾ BÀO HẮC TỐ THỂ ĐẦU CỰC TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG2026-05-11T02:09:37+07:00Trần Hữu Sơnsontran08011999@gmail.comNguyễn Hữu SáuNguyễn Hồng SơnPhạm Đình HoàThân Trọng TuỳVũ Nguyên BìnhLê Thanh HiềnVũ Đình TâmLê Thị Hải YếnĐỗ Thị Như HoaNguyễn Hữu Quangnguyenhuuquang@hmu.edu.vnMục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và phân tích ý nghĩa của hình ảnh chụp phân tích da tổn thương nguyên phát của ung thư tế bào hắc tố thể đầu cực (acral melanoma - AM). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 36 bệnh nhân (BN) AM tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 01/2022 - 01/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 62,1 ± 13,3, nữ chiếm 55,6%. 100% tổn thương ở chi dưới (chủ yếu gan chân, gót chân). 77,8% BN có độ dày Breslow > 1,0mm, tập trung ở giai đoạn I (38,9%) và II (58,3%). Trên hình ảnh chụp phân tích da, 100% tổn thương bất đối xứng về cấu trúc và màu sắc. Mẫu hình gờ song song (parallel ridge pattern - PRP) chiếm 58,3%, giảm đáng kể khi u xâm lấn sâu (Breslow > 4,0mm; p < 0,05). Kiểu hình đa thành phần, màng xanh - trắng, loét và bất thường mạch máu tỷ lệ thuận với độ dày Breslow (p < 0,05). 100% BN có điểm BRAAFF ≥ 1. Kết luận: Chụp phân tích da có giá trị cao trong chẩn đoán và tiên lượng AM, với PRP đặc trưng cho giai đoạn sớm, kiểu hình đa thành phần và bất thường mạch máu gợi ý u xâm lấn sâu.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2028BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: PHÁT HIỆN BIẾN THỂ MỚI ĐỒNG HỢP TỬ GENE WFS1 Ở GIA ĐÌNH CÓ HAI ANH EM MẮC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG KHỞI PHÁT Ở TRẺ EM2026-04-07T09:08:27+07:00Bùi Thị Phương Hoanckh@afhanoi.comNghiên cứu báo cáo ca lâm sàng của một gia đình có hai người con mắc đái tháo đường (ĐTĐ) khởi phát sớm, được đánh giá lâm sàng và phân tích di truyền phân tử. Gia đình có hai con, một con trai sinh năm 2003 và một con gái sinh năm 2005, đều được phát hiện ĐTĐ khởi phát sớm và đang điều trị bằng insulin. Phân tích di truyền phát hiện cả hai anh em mang biến thể WFS1 c.1320_1323dup(p.Thr442ArgfsTer102) ở trạng thái đồng hợp tử, gây lệch khung đọc. Biến thể này chưa được ghi nhận trên ClinVar tại thời điểm phân tích, nhưng được phân loại là gây bệnh theo tiêu chuẩn ACMG/AMP (2015). Người bố và người mẹ đều mang biến thể ở trạng thái dị hợp tử và không có biểu hiện lâm sàng. Chúng tôi báo cáo một biến thể mới của gene WFS1 liên quan đến ĐTĐ khởi phát sớm trong một gia đình có hai anh em cùng mắc bệnh. Kết quả có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán xác định, tư vấn nguy cơ tái phát và định hướng hỗ trợ sinh sản, đặc biệt đối với gia đình có nguyện vọng thực hiện thụ tinh nhân tạo (IVF) kết hợp xét nghiệm di truyền trước làm tổ (PGT-M).Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2241KẾT QUẢ SỐNG THÊM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN ỨC GIAI ĐOẠN IV ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BƯỚC MỘT PHÁC ĐỒ PACLITAXEL-CARBOPLATIN2026-07-20T01:12:42+07:00Nguyễn Thi Ngọcngocnguyeny24.2012@gmail.comNguyễn Thị Thái Hòabshoabvk@gmail.comVũ Văn Sơnbsvusonbv109@gmail.comHoàng Mạnh ThắngThanghm2002@gmail.comMục tiêu: Đánh giá thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (progression-free survival - PFS), sống thêm toàn bộ (overall survival - OS) và một số yếu tố tiên lượng độc lập; so sánh kết quả giữa nhóm de novo và nhóm tái phát sau phẫu thuật (TPSPT) ở bệnh nhân (BN) ung thư biểu mô tuyến ức (UTBMTƯ) giai đoạn IV được điều trị bước một bằng phác đồ Paclitaxel-Carboplatin (PC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 59 BN UTBMTƯ giai đoạn IV, ECOG 0 - 1, điều trị bước một phác đồ PC tại Bệnh viện K và Bệnh viện Phổi Trung ương, từ tháng 01/2016 - 12/2025. Sử dụng Kaplan-Meier và kiểm định log-rank để so sánh PFS và OS giữa hai nhóm; mô hình hồi quy Cox đa biến để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập; xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Kết quả: Trung vị PFS (mPFS) toàn bộ là 8,5 tháng (95%CI: 6,2 - 10,8), trung vị OS (mOS) toàn bộ là 24,2 tháng (95%CI: 19,8 - 29,5). mPFS và mOS của nhóm TPSPT dài hơn nhóm de novo (11,6 so với 8,1 tháng; 30,3 so với 20,8 tháng; p = 0,015). Trong phân tích đa biến, số chu kỳ 5 - 6 (PFS: HR = 0,324, p = 0,001; OS: HR = 0,221, p < 0,001), giai đoạn IVa (OS: HR = 0,441, p = 0,047), và bối cảnh TPSPT (OS: HR = 0,325, p = 0,007) là các yếu tố tiên lượng độc lập. Kết luận: Phác đồ PC đạt mPFS là 8,5 tháng và mOS là 24,2 tháng trong điều trị bước một UTBMTƯ giai đoạn IV. Nhóm TPSPT có thời gian sống thêm dài hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm de novo (p = 0,015). Số chu kỳ 5 - 6, giai đoạn IVa và bối cảnh TPSPT là các yếu tố tiên lượng độc lập cho OS.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2161NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NLR, SII VÀ RDW VỚI mRS TRONG NHỒI MÁU NÃO CẤP ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TIÊU SỢI HUYẾT TĨNH MẠCH2026-05-15T08:32:16+07:00Hà Văn Quanghaquangss@gmail.comNguyễn Thanh Hảinthaihvqy@gmail.comĐỗ Đức ThuầnDothuanvien103@gmail.comMục tiêu: Nhận xét mối liên quan giữa tỷ số bạch cầu trung tính trên bạch cầu lympho (NLR), chỉ số miễn dịch - viêm hệ thống (SII) và độ phân bố hồng cầu (RDW) trong dự báo kết cục chức năng thần kinh sớm theo thang điểm mRS ở bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp (NMNC) được điều trị tiêu sợi huyết (TSH) tĩnh mạch. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có theo dõi trước và sau khi ra viện trên 105 BN NMNC điều trị TSH tĩnh mạch tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01/2025 - 4/2026. Kết quả: Nhóm BN có kết cục chức năng xấu (mRS 3-6) có giá trị trung vị NLR và SII cao hơn so với nhóm kết cục chức năng tốt (mRS 0-2) lần lượt là 3,29 so với 2,35 và 815,59 so với 513,00 (p = 0,005). NLR và SII có giá trị dự báo kết cục xấu với AUC lần lượt là 0,666 (điểm cắt là 1,89; p = 0,003) và 0,665 (điểm cắt là 575,1; p = 0,004). Phân tích hồi quy logistic đơn biến ghi nhận nguy cơ kết cục chức năng xấu tăng ở nhóm có NLR ≥ 1,89 (OR = 5,351), SII ≥ 575,1 (OR = 4,222) và điểm NIHSS (OR = 1,200). Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, điểm NIHSS lúc nhập viện là yếu tố tiên lượng độc lập với kết cục mRS 3-6 (OR = 1,172; p = 0,002). Kết luận: NLR và SII tăng có liên quan đến nguy cơ kết cục chức năng xấu ở BN NMNC sau TSH tĩnh mạch. Tuy nhiên, các chỉ số này không phải là yếu tố tiên lượng độc lập và cần được đánh giá phối hợp với điểm NIHSS lúc nhập viện.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2124GIÁ TRỊ CỦA ĐIỂM MELD 3.0 TRONG TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN CÓ CHẢY MÁU TIÊU HÓA CẤP DO VỠ GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN - DẠ DÀY2026-05-29T07:23:30+07:00Nguyễn Thị LoanKhanhloan1277@gmail.comLê Đức ThịnhDương Quang Huyhuyduonghvqy@gmail.comMục tiêu: Khảo sát giá trị của điểm MELD 3.0 trong tiên lượng tái chảy máu và tử vong ngắn hạn ở bệnh nhân (BN) xơ gan có chảy máu tiêu hóa (CMTH) cấp do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản - dạ dày (TMTQ - DD). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc trong 6 tuần trên 119 BN xơ gan có biến chứng CMTH cấp do vỡ giãn TMTQ - DD điều trị tại Khoa Nội Tiêu hóa, Khoa Hồi sức cấp cứu Nội, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2024 - 4/2026. Tính điểm MELD 3.0 và đối chiếu với tỷ lệ tái chảy máu và tử vong trong 6 tuần theo dõi từ khi chảy máu. Kết quả: Điểm MELD 3.0 có giá trị tốt trong tiên lượng tử vong ngắn hạn (AUC = 0,815; 95%CI: 0,707 - 0,922; p < 0,001), tại điểm cắt 20,5 có độ nhạy (Se) là 81,0%, độ đặc hiệu (Sp) là 76,5% và giá trị dự báo âm (NPV) là 94,9% nhưng lại ít có giá trị trong tiên lượng tái chảy máu (AUC chỉ đạt 0,637). Kết luận: Điểm MELD 3.0 có giá trị tốt trong tiên lượng tử vong 6 tuần ở BN xơ gan có biến chứng CMTH cấp do vỡ giãn TMTQ - DD, trong khi ít có giá trị trong dự báo tái chảy máu.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2258SỰ THAY ĐỔI CHỈ SỐ DINH DƯỠNG TIÊN LƯỢNG Ở NGƯỜI BỆNH TRƯỚC VÀ SAU GHÉP THẬN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-07-13T07:23:53+07:00Nguyễn Thị Thu Hàdrthuha103@gmail.comNguyễn Thị Trangtrangthannong0511@gmail.comMục tiêu: Đánh giá sự thay đổi chỉ số dinh dưỡng tiên lượng (prognostic nutritional index - PNI) trước và sau ghép thận, đồng thời khảo sát mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong 3 tháng đầu sau ghép. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên 101 người bệnh (NB) ghép thận tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2025 - 7/2026. Các xét nghiệm được thực hiện ở thời điểm trước ghép (T0) và sau ghép 3 tháng (T3). Các biến cố sau ghép được theo dõi trong 3 tháng đầu sau ghép. Kết quả: PNI (T3) tăng từ 48,79 ± 5,45 lên 52,27 ± 4,93; thấp hơn ở nhóm tuổi ≥ 40, nhóm sử dụng thuốc ức chế miễn dịch (anti-thymocyte-globulin - ATG), nhóm có thiếu máu ở T3, nhóm có nhiễm trùng trong 3 tháng đầu sau ghép, nhóm có mức lọc cầu thận (MLCT) < 60 mL/phút/1,73m². PNI (T3) < 50 điểm liên quan đến khả năng xuất hiện thiếu máu và nhiễm trùng cao hơn lần lượt là 3,96 lần và 4,14 lần. Khi phân tích PNI dưới dạng biến liên tục, mỗi 1 điểm PNI sau ghép tăng liên quan với giảm OR thiếu máu là 21% và giảm OR nhiễm trùng là 16%. Kết luận: PNI cải thiện rõ rệt ở T3. PNI sau ghép có mối liên quan đến tuổi, thuốc dẫn nhập và một số biến cố sớm sau ghép như thiếu máu, nhiễm trùng.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2048ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHƯƠNG PHÁP NUÔI ĂN BẰNG ỐNG THÔNG MIỆNG - THỰC QUẢN NGẮT QUÃNG Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO CÓ RỐI LOẠN NUỐT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-05-02T04:55:39+07:00Hoàng Hồng Quânbshoangquan.com@gmail.comNguyễn Đăng Hảibsntndhai@gmail.comĐặng Phúc Đứcdangphucduc103@gmail.comĐỗ Đức Thuầndothuanvien103@gmail.comĐặng Minh Đứcdangminhduc88@gmail.comPhan Thế Hàdrhaphan87@gmail.comNguyễn Đăng CươngDangcuong1210@gmail.comĐỗ Văn Việtdovanviet1980@gmail.comBùi Văn Nămdoctornambv103@gmail.comTrần Minh Tuânminhtuandhy49b@gmail.comĐỗ Đức Anhdoducanhctst@gmail.comTrần Hoàng AnhTrần Anh Kiệtanhkiett2k3@gmail.comLê Quý Ngọclequyngoc2019@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu và ưu, nhược điểm của phương pháp nuôi ăn bằng ống thông miệng - thực quản (oro-esophageal tube - OE) ngắt quãng (intermittent oro-esophageal tube feeding - IOTF) ở người bệnh (NB) đột quỵ não (ĐQN) có rối loạn nuốt. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không đối chứng trên 26 NB ĐQN có rối loạn nuốt, được đánh giá chức năng nuốt bằng thang điểm GUSS và được IOTF tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 3/2025 - 01/2026. Kết quả:Tuổi trung bình của NB là 72,2 ± 11,1; nhóm ≥ 60 tuổi chiếm 84,6%; tỷ lệ nam/nữ là 1/1. Điểm GUSS trung bình tăng từ 11,5 ± 2,1 lên 17,5 ± 2,1 điểm sau 2 tuần can thiệp, hiệu số thay đổi là 6,1 ± 2,2 điểm (p < 0,05). Cân nặng trung bình tăng từ 54,8 ± 9,0kg lên 55,2 ± 9,4kg, nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Nồng độ protein huyết thanh thay đổi không có ý nghĩa thống kê; albumin giảm nhẹ từ 38,5 ± 4,3 g/L xuống 36,5 ± 4,4 g/L (p < 0,05). Thời gian đặt ống OE trung bình là 4,6 ± 2,6 phút; tỷ lệ đặt ống OE thành công ngay ở lần đầu là 80,8%; chiều dài ống OE trung bình là 33,1 ± 1,9cm. NB thường gặp phản xạ nôn, ho sặc và hạn chế hợp tác khi đặt ống OE. Kết luận: Phương pháp IOTF bước đầu cho thấy hiệu quả cải thiện chức năng nuốt ở NB ĐQN, thao tác đặt ống OE tương đối nhanh nhưng vẫn còn một số khó khăn khi thực hiện.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2105PHÂN BỐ CÁC CHỦNG VI KHUẨN PHÂN LẬP VÀ KẾT CỤC LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN CẤY KHUẨN DƯƠNG TÍNH TẠI TRUNG TÂM HỒI SỨC CẤP CỨU, CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-06-24T08:10:52+07:00Lê Tiến Dũngdrletiendung79@gmail.comPhạm Thái Dũngdzungdoctor@gmail.comĐặng Văn BaVũ Minh Dươngbsminhduonghscc103@gmail.comĐỗ Mạnh Hùngdomanhhungpt95@gmail.comNguyễn Đắc Khôindackhoi@gmail.comTrịnh Trọng Namnamctdc0113@gmail.comNguyễn Văn Anank59hvqy@gmail.comHoàng Xuân Quảnghoangquang1011@gmail.comNguyễn Bá Hoài Việtviet09041996@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm phân bố các chủng vi khuẩn (VK) phân lập và mối liên quan với kết cục lâm sàng (tỷ lệ tử vong, thời gian thở máy, thời gian nằm tại đơn vị hồi sức tích cực - ICU) của bệnh nhân (BN) cấy khuẩn dương tính. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 781 bệnh nhân (BN) cấy vi sinh dương tính tại Trung tâm Hồi sức cấp cứu, Chống độc, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 12/2025. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 qua kiểm định Chi-square và Kruskal-Wallis. Kết quả: A. baumannii chiếm tỷ lệ cao nhất (27,8%), theo sau là P. aeruginosa (26,0%); cả hai VK này chủ yếu được phân lập từ đường hô hấp (với tỷ lệ lần lượt là 92,6% và 72,4%). Tỷ lệ tử vong chung là 37,9%, cao nhất ở nhóm nhiễm Klebsiella pneumoniae (53,3%), tiếp theo là A. baumannii (36,9%) và P. aeruginosa (31,5%), (p < 0,05). Nhiễm P. aeruginosa làm kéo dài thời gian thở máy (trung vị 22 [14 - 32] ngày) và thời gian nằm ICU (trung vị 32 [19 - 48] ngày). Kết luận:VK Gram âm, đặc biệt là P. aeruginosa, A. baumannii và K. pneumoniae là những tác nhân gây bệnh chủ yếu tại Trung tâm Hồi sức cấp cứu, Chống độc, có liên quan rõ rệt đến việc gia tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian thở máy và thời gian nằm ICU.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1252ĐẶC ĐIỂM THIẾU VITAMIN D TRÊN BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN2026-06-10T07:37:42+07:00Nguyễn Thị Hươngnguyenhuongvbqg10011986@gmail.comNguyễn Như LâmPhạm Đức MinhNguyễn Hải AnMục tiêu: Đánh giá tỷ lệ thiếu vitamin D trên bệnh nhân (BN) bỏng nặng và các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, theo dõi dọc trên 88 BN bỏng nặng, ≥ 18 tuổi, điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 3/2023 - 02/2025. Kết quả: Tỷ lệ thiếu vitamin D thời điểm nhập viện là 71,6% (38,6% ở mức độ nặng), tăng cao vào ngày 7 (88%) và tiếp tục kéo dài vào ngày 28 sau bỏng (85,4%). Nồng độ 25(OH)D huyết thanh thời điểm nhập viện có mối tương quan nghịch với diện tích bỏng (rho = -0,32; p = 0,002) và diện tích bỏng sâu (rho = -0,45; p = 0,001); tương quan thuận với nồng độ albumin huyết tương (rho = 0,41; p = 0,001) và nồng độ protein huyết tương (rho = 0,37; p = 0,001). Diện tích bỏng sâu là yếu tố độc lập liên quan đến nồng độ 25(OH)D huyết thanh thời điểm nhập viện (β = -0,27; p = 0,04). Kết luận: Thiếu vitamin D trên BN bỏng nặng chiếm tỷ lệ cao lúc nhập viện và kéo dài sau bỏng. Diện tích bỏng sâu có mối liên quan độc lập với nồng độ 25(OH)D huyết thanh thời điểm nhập viện.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2121GIÁ TRỊ CỦA MÔ HÌNH HỌC MÁY RANDOM FOREST TRONG DỰ ĐOÁN TỬ VONG Ở BỆNH NHÂN ĐA CHẤN THƯƠNG2026-05-13T03:51:20+07:00Lê Đăng Mạnhcongtuoc412@gmail.comVũ Minh DươngNguyễn Quang HuyVũ Anh DũngPhạm Ngọc ThảoPhạm Minh TuấnLê Duy Chíchidl@vmmu.edu.vnMục tiêu: Đánh giá hiệu suất của mô hình học máy rừng ngẫu nhiên (Random Forest - RF) trong dự đoán tử vong ở bệnh nhân (BN) đa chấn thương và so sánh với ISS (injury severity score) và lactate máu lúc nhập viện. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 196 BN đa chấn thương điều trị tại Khoa Hồi sức Ngoại, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6/2020 - 6/2023. Các biến lâm sàng, xét nghiệm và kết cục tử vong được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Dữ liệu được chia thành tập huấn luyện và tập kiểm tra theo tỷ lệ 60:40. Boruta được sử dụng để lựa chọn đặc trưng. Hiệu suất được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong (AUC), độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp), giá trị tiên đoán dương tính (PPV), giá trị tiên đoán âm tính (NPV), Brier score và phân tích đường cong quyết định. Kết quả: Có 80 BN tử vong, chiếm 40,8%. Sau khi lựa chọn đặc trưng, 8 biến được đưa vào mô hình. Trên tập kiểm tra, mô hình RF đạt AUC 0,94, Se 90,62%, Sp 95,74%, PPV 93,55% và NPV 93,75%, cao hơn ISS và lactate máu đơn độc (p < 0,01; kiểm định DeLong). Kết luận: Mô hình RF cho thấy hiệu suất cao trong dự đoán tử vong ở BN đa chấn thương và có thể hỗ trợ bác sĩ phân tầng nguy cơ sớm trong thực hành lâm sàng.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2190KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN NIỆU TRƯỚC TÁN SỎI THẬN QUA DA: ĐẶC ĐIỂM VI KHUẨN HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ2026-06-03T01:45:40+07:00Nguyễn Việt Hảiviethainguyen108@gmail.comNguyễn Bá Tuấnnguyenbatuan1105@gmail.comTrần Hoàng Anhhoanganhhk95@gmail.comMục tiêu: Nhận xét đặc điểm vi khuẩn học và kết quả kiểm soát nhiễm khuẩn niệu (NKN) trước tán sỏi thận qua da (percutaneous nephrolithotomy - PCNL) ở bệnh nhân (BN) sỏi thận. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên 41 BN sỏi thận kèm NKN được điều trị trước PCNL đường hầm nhỏ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 10/2024 - 3/2025. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm kết quả cấy vi sinh, hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (systemic inflammatory response syndrome - SIRS), phương pháp dẫn lưu, điều trị kháng sinh và biến chứng nhiễm khuẩn sớm sau phẫu thuật. Kết quả: Cấy nước tiểu phía dưới vị trí tắc nghẽn dương tính ở 33/41 BN (80,5%). Trong 41 chủng phân lập từ nước tiểu, vi khuẩn Gram âm chiếm 78,0%; Escherichia coli (E. coli) chiếm 48,8% và Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa) chiếm 14,6%. SIRS ghi nhận ở 18/41 BN (43,9%). Dẫn lưu thận qua da được thực hiện ở 20/41 BN (48,8%). Trong 21 BN dùng kháng sinh theo kinh nghiệm ban đầu, 13 BN (61,9%) phù hợp với kháng sinh đồ. Thời gian điều trị kháng sinh trung bình là 8,98 ± 4,01 ngày. Sau phẫu thuật, sốt gặp ở 3/41 BN (7,3%); không ghi nhận nhiễm khuẩn huyết hoặc sốc nhiễm khuẩn. Kết luận: NKN trước PCNL chủ yếu do vi khuẩn Gram âm. Điều trị kháng sinh kết hợp dẫn lưu giải áp khi có chỉ định giúp kiểm soát nhiễm khuẩn trước mổ và hạn chế biến chứng nhiễm khuẩn sớm sau phẫu thuật.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2163NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA GÂY TÊ KHOANG MẠC CHẬU LIÊN TỤC BẰNG LEVOBUPIVACAINE SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP2026-06-15T06:36:30+07:00Trần Hoài NamNamb5v103@gmail.comTrần Hoàng Quândrhoangquanbv120@gmail.comBùi Công Đoànbuicongkhang2015@gmail.comNguyễn Xuân Tiếndrtien.vn@gmail.comNguyễn Ngọc Thạchnnthach1970@gmail.comMục tiêu:Đánh giá hiệu quả giảm đau của gây tê khoang mạc chậu (fascia iliaca compartment block - FICB) liên tục bằng levobupivacaine sau phẫu thuật thay khớp háng (TKH) và ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu tuần hoàn, hô hấp; tác dụng không mong muốn của phương pháp này. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả, tiến cứu không đối chứng trên 42 bệnh nhân (BN) phẫu thuật TKH dưới gây tê tủy sống tại Khoa Gây mê, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 01/2025 - 3/2026. Sau phẫu thuật, tất cả BN được đặt catheter khoang mạc chậu dưới hướng dẫn siêu âm, tiêm 30mL levobupivacaine 0,2% và duy trì truyền levobupivacaine 0,1% 4 mL/giờ trong 72 giờ. Kết quả:Điểm VAS (visual analogue score) trung bình khi nghỉ duy trì < 3 điểm và điểm VAS trung bình khi vận động duy trì < 4 điểm sau sử dụng levobupivacaine; chỉ 4,8% BN cần “giải cứu đau”. Tỷ lệ BN hài lòng và rất hài lòng là 90,4%. Tần số tim, huyết áp tâm thu, tần số hô hấp và SpO₂ thay đổi trong giới hạn sinh lý trong 72 giờ FICB. Dị cảm gặp ở 40,5%; ức chế vận động Bromage mức độ 1 và mức độ 2 tương ứng là 31% và 11,9%. Tỷ lệ ngứa; buồn nôn, nôn; nhiễm trùng chân catheter tương ứng là 11,9%; 7,1% và 2,4%. Kết luận:FICB liên tục bằng levobupivacaine kiểm soát đau hiệu quả và ít ảnh hưởng đến hô hấp, tuần hoàn; tác dụng không mong muốn thoáng qua, dễ xử trí sau phẫu thuật TKH trong nhóm BN nghiên cứu.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2149ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG KHỚP VAI VÀ KHUỶU Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT DI CHỨNG BỎNG CHI TRÊN2026-06-14T09:27:08+07:00Bùi Thanh Lợibuithanhloi77@gmail.comNguyễn Thành ChungHoàng Đức MinhMục tiêu: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng (PHCN) tầm vận động khớp (range of motion - ROM) và mức độ độc lập sinh hoạt trên bệnh nhân (BN) phẫu thuật di chứng bỏng chi trên. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên không đối chứng trên 30 BN đã phẫu thuật di chứng bỏng khớp vai và khớp khuỷu tại Trung tâm Phẫu thuật tạo hình, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 4/2025 - 4/2026. BN được áp dụng phác đồ PHCN 3 giai đoạn. Lượng giá ROM sử dụng thước đo góc và mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày (activities of daily living - ADL) bằng chỉ số Barthel tại 5 thời điểm (T1 - T5). Kết quả: Quy trình PHCN can thiệp sớm cho BN phẫu thuật di chứng bỏng chi trên giúp tăng ROM khớp vai (gập từ 57,7 ± 7,67° lên 132,1 ± 6,95°, dạng từ 58,7 ± 10,1° lên 138,06 ± 7,86°) và tăng ROM gập khớp khuỷu (từ 45,7 ± 9,04° lên 131,33 ± 8,90°); gập khuỷu tăng từ 46 ± 9,48° lên 131,33 ± 8,9° (p < 0,05). Điểm Barthel cải thiện từ 62,03 ± 5,54 lên 94,13 ± 2,56 điểm. 100% BN đạt kết quả phục hồi từ “tốt” trở lên. Kết luận: Phác đồ PHCN 3 giai đoạn giúp cải thiện ROM khớp vai - khuỷu và tăng số điểm Barthel, 100% BN đạt kết quả phục hồi “tốt” trở lên.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2150ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA KỸ THUẬT GÂY TÊ KHOANG MẠC CHẬU ĐƯỜNG DƯỚI BẸN DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG2026-06-17T02:40:55+07:00Trần Nam Hoài Hậuhoaihau.qn2002@gmail.comHuỳnh Đức Phátphatanes@gmail.comNguyễn Hoàng Phương Hânnguyenhoangphuonghan18@gmail.comMục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau của kỹ thuật gây tê khoang mạc chậu (fascia iliaca compartment block - FICB)đường dưới bẹn dưới siêu âm trên bệnh nhân (BN) sau phẫu thuật thay khớp háng (TKH). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, theo dõi dọc trên 50 BN > 18 tuổi có phân độ ASA I - III, được chỉ định TKH tại Bệnh viện Đà Nẵng, từ tháng 10/2025 - 4/2026. BN được FICB đường dưới bẹn dưới hướng dẫn siêu âm với liều bolus 30mL levobupivacain 0,25%, sau đó duy trì qua catheter ban đầu bằng các liều bolus tự động ngắt quãng 30mL levobupivacain 0,125% mỗi 8 giờ. Kết quả: Kỹ thuật mang lại hiệu quả giảm đau tốt với chỉ số thang nhìn đồng dạng (visual analogue scale - VAS) < 4 tại đa số thời điểm khảo sát lúc nghỉ lẫn vận động. Không ghi nhận ca nào cần giải cứu bằng giảm đau do BN kiểm soát (patient controlled analgesia - PCA) morphin trong suốt quá trình theo dõi. 96,0% BN đạt mức hài lòng đến rất hài lòng về chất lượng giảm đau này. Kết luận: FICB đường dưới bẹn dưới hướng dẫn siêu âm có hiệu quả giảm đau tốt trên BN sau phẫu thuật TKH.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2164ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN CẮT BÁN PHẦN DƯỚI DẠ DÀY ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-06-12T07:06:01+07:00Nguyễn Văn Tiệpchiductam@gmail.comNguyễn Trọng Hòetronghoe103@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi (PTNS) hoàn toàn cắt bán phần dưới dạ dày, nối dạ dày - hỗng tràng (DD - HT) trong ổ bụng, điều trị ung thư dạ dày (UTDD). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên 41 bệnh nhân (BN) UTDD được PTNS hoàn toàn cắt bán phần dưới dạ dày, nối DD - HT trong ổ bụng tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2024 - 5/2026. Kết quả: Phục hồi lưu thông tiêu hóa kiểu Billroth II chiếm 41,5% và kiểu Roux-en-Y chiếm 58,5%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 181,1 ± 50,6 phút, lượng máu mất trung bình là 29,8 ± 16,4mL, số hạch vét được trung bình đạt 21,3 ± 9,7. Không có trường hợp nào phải chuyển phẫu thuật mở. Tai biến phẫu thuật gặp ở 9,8% trường hợp và biến chứng sau phẫu thuật gặp ở 7,3% trường hợp. Không có trường hợp nào bị biến chứng rò miệng nối hoặc rò mỏm tá tràng. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 9,6 ± 2,1 ngày. Kết luận: PTNS hoàn toàn cắt bán phần dưới dạ dày, nối DD - HT trong ổ bụng là kỹ thuật an toàn, khả thi, giúp hồi phục sau phẫu thuật sớm và có tỷ lệ tai biến, biến chứng sớm chấp nhận được trong điều trị UTDD.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2022KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT BÓC NỘI MẠC ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG SỬ DỤNG SHUNT TẠM THỜI DƯỚI GÂY TÊ ĐÁM RỐI CỔ NÔNG2026-06-07T08:48:02+07:00Vũ Đức ThắngNguyễn Thế KiênTrần Đắc TiệpLê Bá Hạnhbahanh41@gmail.comMục tiêu:Đánh giá kết quả phẫu thuật bóc nội mạc động mạch (ĐM) cảnh trong sử dụng shunt tạm thời dưới gây tê đám rối cổ nông. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh, hồi cứu, không đối chứng trên 14 bệnh nhân (BN) hẹp ĐM cảnh được phẫu thuật bóc nội mạc ĐM cảnh tại Bệnh viện Quân y 103 từ năm 2023 - 2025.Kết quả:Tuổi trung bình của BN là 68,1; nam giới chiếm 85,7%. Hẹp ĐM cảnh có triệu chứng chiếm 64,3%. Tất cả BN đều tăng huyết áp kèm theo. Thời gian thiếu máu não một bên do kẹp ĐM cảnh, thời gian tưới máu não qua shunt ĐM cảnh lần lượt là 1,3 ± 1,2 phút và 24,8 ± 4,5 phút. Có 3 trường hợp mất ý thức do kẹp ĐM cảnh để đặt shunt tạm thời; 1 trường hợp phải chuyển gây mê đặt ống nội khí quản do kích thích. Không có trường hợp nào chảy máu, đột quỵ não hay tử vong trong thời gian theo dõi. Không có trường hợp nào tái hẹp ĐM cảnh trong thời gian theo dõi 12 tháng. Kết luận: Phẫu thuật bóc nội mạc ĐM cảnh trong là phẫu thuật an toàn, mang lại kết quả tốt cho BN với tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự