https://jmpm.vn/index.php/jmpm/issue/feedTạp chí Y Dược học Quân sự2026-05-28T07:19:13+07:00Journal of Military Pharmaco-medicinetcydhqs@vmmu.edu.vnOpen Journal Systems<p>Học viện Quân y là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ngành Y Dược duy nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng với 3 nhiệm vụ chính trị trung tâm là đào tạo cán bộ quân y các cấp, đội ngũ nhân viên y tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; điều trị và nghiên cứu khoa học, đặc biệt về lĩnh vực y dược học quân sự; không ngừng phấn đấu với vị trí của một trong những trường đại học y dược hàng đầu của Việt Nam, trường Đại học trọng điểm Quốc gia; trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong các lĩnh vực y học quân sự và y học chung của quốc gia và quốc tế.</p> <p>Tạp chí Y Dược học Quân sự là cơ quan ngôn luận thông tin về các hoạt động của Học viện Quân y, trực thuộc Ban Giám đốc Học viện; được cấp Giấy phép hoạt động báo chí số 345/GP-BVHTT ngày 08/8/2002 và xuất bản 02 tháng/kỳ. Trước xu thế hội nhập của thế giới, với mong muốn có thể trao đổi với các đồng nghiệp trên toàn thế giới về thành tựu nghiên cứu y học, Tạp chí Y Dược học Quân sự đã đề nghị Tổng cục Chính trị cho phép tạp chí được đưa các bài viết đã đăng tải lên mạng internet và đã được sự đồng ý của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị (theo công văn số 440/VP của Văn phòng Tổng cục ngày 16/5/2005). Đây là bước phát triển quan trọng của Tạp chí Y Dược học Quân sự, tạo điều kiện cho tạp chí được trao đổi với các tạp chí có uy tín trên thế giới. Ngày 21/06/2006, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế ISSN 1859 - 0748. Ngày 6/5/2026, Tạp chí Y Dược học Quân sự được cấp chỉ số quốc tế e-ISSN 3126-2945.</p> <p>Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu tiên cho tới nay, Tạp chí Y Dược Quân sự đã được cấp phép sửa đổi nâng kỳ xuất bản lên 9 số/năm (Giấy phép hoạt động báo chí số 1149/GP-BTTTT năm 2012 và số 594/GP-BTTTT năm 2022) và các số Tạp chí đặc biệt cho các Hội nghị Khoa học của Học viện. Nhằm nâng cao chất lượng tạp chí hơn nữa, từ đầu năm 2022 Tạp chí đã xây dựng website riêng để xuất bản online và gắn chỉ số DOI (https://doi.org/10.56535) cho mỗi bài báo, đồng thời đã thực hiện phản biện kín 2 chiều trực tuyến, độc lập cho mỗi bài báo.</p> <p>Tạp chí Y Dược học quân sự luôn nỗ lực khẳng định thương hiệu của mình, đóng góp tích cực phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị. Tạp chí Y Dược học quân sự thực sự trở thành cơ quan ngôn luận về chuyên môn khoa học, đào tạo và điều trị của Học viện Quân y, sát cánh cùng các đơn vị trong đội hình Học viện viết nên những trang vàng thành tích hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện Quân y.</p>https://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1904CƠ CẤU DANH MỤC VÀ TIÊU THỤ KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN BỎNG QUỐC GIA LÊ HỮU TRÁC NĂM 20242026-03-12T06:54:10+07:00Nguyễn Thị Hồng Thắmdsthamvbqg@gmail.comNgô Minh Đứcyducqy@gmail.comNgô Thị Xuân ThuVũ Dương Anh Minhminhvda@hup.edu.vnMục tiêu:Mô tả cơ cấu danh mục và mức tiêu thụ kháng sinh trong điều trị nội trú. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên dữ liệu sử dụng kháng sinh nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ ngày 01/01 - 31/12/2024. Kết quả:Kháng sinh chiếm 47,7% tổng giá trị sử dụng thuốc trong điều trị nội trú. Nhóm có tỷ trọng chi phí cao gồm carbapenem (23,6%), fluoroquinolones (22,8%), cephalosporin thế hệ 3 (15,5%), penicillin (14,1%) và polymyxin (10,7%). Theo phân loại AWaRe, nhóm Watch (nhóm giám sát) chiếm 69,8%, nhóm Reserve (nhóm dự trữ) chiếm 19,4% và nhóm Access (nhóm tiếp cận) chiếm 10,8% tổng chi phí sử dụng kháng sinh. Kháng sinh thuộc danh mục ưu tiên quản lý theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế chiếm 68,5%. Thuốc đường tiêm/truyền chiếm 97,9% giá trị sử dụng. Chi phí và mức tiêu thụ kháng sinh tập trung chủ yếu tại Khoa Hồi sức cấp cứu (50,5%). Kết luận: Sử dụng kháng sinh nội trú chủ yếu là thuốc phổ rộng, đường tiêm/truyền và các nhóm cần giám sát cao. Kết quả này phản ánh nhu cầu đặc thù trong điều trị bệnh nhân bỏng nặng, đồng thời cho thấy cần tăng cường quản lý và tối ưu hóa sử dụng kháng sinh dựa trên phân tích tiêu thụ và chi phí.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1810KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ PROPROTEIN CONVERTASE SUBTILISIN/KEXIN TYPE 9 HUYẾT TƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN XƠ GAN VÀ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN2025-12-30T03:42:17+07:00Đinh Trọng Hàhadtqx@yahoo.comĐặng Ngọc HàTsukasa2123@gmail.comDương Quang HuyMục tiêu:Đánh giá nồng độ proprotein convertase subtilisin/kexin type 9 (PCSK9) huyết tương trên bệnh nhân (BN) xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG), góp phần bổ sung bằng chứng cho khả năng ứng dụng trong sàng lọc và chẩn đoán sớm UTBMTBG. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, so sánh song song trên 50 BN xơ gan và 50 BN UTBMTBG điều trị nội trú tại Khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 4/2023 - 4/2024. Nồng độ PCSK9 huyết tương được định lượng bằng kỹ thuật ELISA. Kết quả: Nồng độ PCSK9 huyết tương trung vị ở BN UTBMTBG cao hơn rõ rệt so với nhóm BN xơ gan (176,2 so với 102,5 ng/mL; p < 0,001). Nồng độ PCSK9 huyết tương phân biệt UTBMTBG và xơ gan với AUC = 0,78 (95%CI: 0,70 - 0,86). Tại điểm cắt 140 ng/mL, độ nhạy đạt 72,0% và độ đặc hiệu đạt 74,0%. Ngoài ra, nồng độ PCSK9 huyết tương có tương quan thuận mức độ trung bình với AFP (r = 0,46; p < 0,001) và tiểu cầu (r = 0,38; p = 0,002); đồng thời, tương quan nghịch với bilirubin toàn phần (r = -0,41; p < 0,001). Kết luận: Nồng độ PCSK9 huyết tương ở BN UTBMTBG cao hơn rõ rệt so với BN xơ gan (176,2 so với 102,5 ng/mL; p < 0,001), có giá trị phân biệt hai nhóm với AUC = 0,78; tại điểm cắt 140 ng/mL, độ nhạy đạt 72% và độ đặc hiệu đạt 74%. Nồng độ PCSK9 huyết tương cho thấy tiềm năng bước đầu trong hỗ trợ sàng lọc và phát hiện UTBMTBG trên nền xơ gan.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1925BIẾN THỂ BÌNH THƯỜNG TRÊN ĐIỆN NÃO ĐỒ2026-02-24T05:22:34+07:00Mã Lệ QuânTrương Lê Tuấn AnhNguyễn Huy Thắngnguyenhuythang115@gmail.comMục tiêu: Xác định tỷ lệ và mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng với từng loại biến thể bình thường (BTBT) trên điện não đồ (electroencephalography - EEG). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, tiến cứu và mô tả cắt ngang trên 357 bản ghi EEG của 348 bệnh nhân (BN) đến khám và đo EEG lúc thức và ngủ tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ ngày 22/4/2022 - 15/10/2024 và Bệnh viện Ngoại Thần kinh Quốc tế từ ngày 15/02 - 15/10/2024. Kết quả:Tỷ lệ BTBT chung, BTBT lúc thức và BTBT lúc ngủ lần lượt là 49,9%, 14,3% và 45,3%. BTBT phổ biến nhất là sóng nhọn dương ở vùng chẩm trong giấc ngủ (POSTs) (39,5%), tiếp theo là nhịp mu, sóng nhọn nhỏ và phóng điện nhịp giữa thái dương, nhọn hình hàng rào, sóng Lambda, nhịp theta đường giữa, nhịp cửa sổ, nhịp 14/6. Yếu tố liên quan đến biến thể lúc ngủ bao gồm không có bất thường hình ảnh (OR = 1,58). Các yếu tố liên quan đến biến thể POSTs, bao gồm nữ giới (OR = 1,91), không có bất thường điện não (OR = 2,05), không có cơn động kinh (OR = 3,62), không có bất thường hình ảnh (OR = 1,62), và không có tổn thương vùng trán (OR = 2,24) hoặc vùng chẩm (OR = 4,82) trên hình ảnh học. Kết luận:BTBT phổ biến trên EEG lúc thức và ngủ, do đó, việc mô tả thường quy sẽ giúp phân biệt với các phóng điện động kinh ngoài cơn, từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh động kinh.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1898KHẢO SÁT GIÁ TRỊ CỦA CD64 TRÊN BẠCH CẦU HẠT TRUNG TÍNH, HLA-DR TRÊN BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN VÀ MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC KHÁC TRONG CHẨN ĐOÁN NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở BỆNH VIỆN QUÂN Y 1752026-02-24T07:13:23+07:00Nguyễn Văn Thăngthangnv2103@gmail.comVũ Sơn Giangbsgiang175@gmail.comNguyễn Phương Thảobsthaobv175@gmail.comTrương Như Quândrnhuquan@gmail.comBùi Văn Phápfrance0459@gmail.comLê Thị Vân Anhsututhitthan@gmail.comMục tiêu: Khảo sát giá trị của tế bào bạch cầu đơn nhân (mHLA-DR), bạch cầu đa nhân trung tính (nCD64), và một số dấu ấn sinh học khác (sepsis index - SI, procalcitonin, bạch cầu) trong chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết (sepsis). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 86 bệnh nhân (BN) điều trị tại Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 10/2024 - 4/2025. Kết quả:Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giá trị trung vị của các chỉ số nCD64, mHLA-DR và SI giữa 2 nhóm BN sepsis và không sepsis. SI và nCD64 thể hiện hiệu quả chẩn đoán sepsis rất cao, với diện tích dưới đường cong (area under the curve - AUC) lần lượt là 0,9 và 0,87 với p < 0,01, cao hơn so với mHLA-DR (AUC = 0,31, p < 0,01), procalcitonin (PCT) (AUC = 0,81, p < 0,01) và bạch cầu (BC) (AUC = 0,7, p < 0,01). Với ngưỡng 3.029 phân tử/tế bào, nCD64 cho thấy khả năng chẩn đoán sepsis với độ nhạy chiếm 84,6% và độ đặc hiệu chiếm 79,4%. Đối với SI, tại điểm cắt ≥ 16,3, chỉ số này đạt độ nhạy 94,2% và độ đặc hiệu 79,4% trong phát hiện sepsis. Phối hợp nCD64, mHLA-DR và PCT giúp hỗ trợ chẩn đoán sepsis tốt nhất với AUC = 0,94 (95%CI = 0,9 - 0,99), p < 0,01. Kết luận:nCD64 và SI hỗ trợ chẩn đoán sepsis ở mức độ rất tốt với độ nhạy cao. Phối hợp nCD64, mHLA-DR và SI với PCT, BC làm tăng cao khả năng chẩn đoán sepsis.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1943VAI TRÒ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ THƯỜNG QUY VÀ KHUẾCH TÁN TRONG ĐÁNH GIÁ PHÂN BẬC U THẦN KINH ĐỆM TRÊN LỀU Ở TRẺ EM2026-02-26T09:10:46+07:00Vương Kim Ngândrkimngan.rad@gmail.comLê Thanh Dũngdrdung74@gmail.comTrần Phan Ninhninh98@gmail.comNguyễn Sỹ LánhHoàng Ngọc ThạchNguyễn Duy Hùngduyhung@hmu.edu.vnMục tiêu: Đánh giá đặc điểm hình ảnh và vai trò của cộng hưởng từ (CHT) thường quy và khuếch tán trong phân bậc u thần kinh đệm (UTKĐ) trên lều ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 63 bệnh nhi (BN) UTKĐ trên lều được chụp CHT và có kết quả giải phẫu bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 10/2023 - 11/2025. Các đặc điểm trên CHT thường quy, khuếch tán được phân tích và đối chiếu với mô bệnh học. Kết quả: UTKĐ bậc cao có kích thước, ranh giới không rõ, hoại tử, chảy máu trong u, xâm lấn thể chai, lan qua đường giữa, ngấm thuốc không đồng nhất, phù quanh u và hiệu ứng khối cao hơn UTKĐ bậc thấp, có giá trị ADC thấp hơn UTKĐ bậc thấp (p < 0,05). Dấu hiệu xâm lấn thể chai và lan qua đường giữa có độ đặc hiệu là 92,68%, trong khi ngấm thuốc không đồng nhất có độ nhạy là 90,91%. ADCmin và rADCmin có AUC cao là 0,975 và 0,925, với giá trị cut-off là 0,641 × 10-3 mm²/s và 1,16. Kết luận: Chụp CHT thường quy và khuếch tán có giá trị trong phân bậc UTKĐ trên lều ở trẻ em.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1984MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM TẾ BÀO, MÔ BỆNH HỌC TỦY XƯƠNG VỚI KIỂU ĐỘT BIẾN GENE Ở BỆNH NHÂN TĂNG TIỂU CẦU TIÊN PHÁT2026-03-20T05:19:16+07:00Nguyễn Thị Thùy Linhnttl089@gmail.comNguyễn Ngọc Dũngbsdungnihbt0874@gmail.comMục tiêu:Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm tế bào, mô bệnh học tủy xương với một số kiểu đột biến gene ở bệnh nhân (BN) tăng tiểu cầu tiên phát (essential thrombocythemia - ET). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứuhồi cứu,mô tả cắt ngang trên 208 BN được chẩn đoán xác định ET lần đầu tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương theo tiêu chuẩn của WHO (2016) từ tháng 01/2022 - 12/2024. Kết quả:Tỷ lệ BN có đột biến JAK2, CALR, MPL và âm tính với cả ba đột biến trên lần lượt là 72,6%, 17,3%, 1,4% và 8,7%. Tuổi trung vị là 58,1 (19 - 91); tỷ lệ nhóm nguy cơ cao theo Điểm Tiên lượng Quốc tế cho BN Tăng Tiểu cầu tiên phát (International Prognostic Score for Essential Thrombocythemia - IPSET) là 49,5%; số lượng tiểu cầu (SLTC) trung vị là 1.126 (509 - 3.528) G/L; dải phân bố kích thước tiểu cầu (Platelet Distribution Width - PDW) và thể tích trung bình tiểu cầu (Mean Platelet Volume - MPV) trung bình là 20,4 ± 9,9% và 7,7 ± 1,9fl. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi, nhóm nguy cơ theo IPSET, PDW, MPV, số lượng bạch cầu (SLBC) và tiểu cầu, mức độ xơ tủy, hình thái và phân bố mẫu tiểu cầu (MTC) giữa nhóm đột biến JAK2 và nhóm âm tính với cả ba đột biến.Kết luận:Tăng sinh mạnh dòng MTC, kích thước không đồng đều, nhân tăng múi, đứng thành cụm nhỏ hoặc rời rạc, xơ hóa tủy nhẹ là những đặc điểm xuất hiện ở BN ET. Đột biến JAK2 chiếm tỷ lệ cao nhất với tuổi trung bình lớn hơn, tủy tăng sinh mạnh hơn, tỷ lệ nhân tăng múi cao hơn và nguy cơ huyết khối cao hơn so với nhóm âm tính với cả ba đột biến.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1928VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM DOPPLER XUYÊN SỌ TRONG CHẨN ĐOÁN TỒN TẠI LỖ BẦU DỤC TRÊN BỆNH NHÂN TRẺ BỊ ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO2026-02-24T05:26:47+07:00Nguyễn Thị Thu ThảoTrương Lê Tuấn AnhNguyễn Huy Thắngnguyenhuythang115@gmail.comMục tiêu:Xác định tỷ lệ tồn tại lỗ bầu dục (patent foramen ovale - PFO) ở bệnh nhân (BN) trẻ bị đột quỵ thiếu máu não (ĐQTMN) không rõ nguyên nhân và đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của siêu âm Doppler xuyên sọ (SADXS) so với siêu âm tim qua thực quản (SATQTQ). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 107 BN ≤ 45 tuổi, được chẩn đoán ĐQTMN không rõ nguyên nhân tại Bệnh viện Nhân dân 115, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 - 9/2024. Tất cả BN được khảo sát SADXS và SATQTQ bằng nghiệm pháp tạo bọt khí. Kết quả: Tỷ lệ phát hiện PFO ở nhóm nghiên cứu đạt khoảng 45,8%. SADXS có độ nhạy đạt 94,8%, độ đặc hiệu đạt 90%, giá trị tiên đoán dương và âm đều cao. Đây là phương pháp dễ thực hiện, không xâm lấn, phù hợp cho tầm soát ban đầu ở BN trẻ bị ĐQTMN. Kết luận:SADXS là kỹ thuật không xâm lấn, thực hiện đơn giản, chi phí thấp và có độ chính xác cao. Do đó, các đơn vị điều trị đột quỵ có thể áp dụng SADXS trên lâm sàng như công cụ sàng lọc ban đầu để tầm soát PFO, đặc biệt ở BN có PFO kích thước nhỏ.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1967KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG CHATGPT TRONG TIÊN LƯỢNG CUỘC ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-03-05T09:27:05+07:00Đào Nguyên Hùngbshung103@gmail.comLê Thị Thanh Ngangaleb10103@gmail.comĐỗ Minh Trungdominhtrung@vmmu.edu.vnNguyễn Hoàng Đạtdatsup1512@gmail.comĐoàn Mạnh Hùngdmanhhung1105@gmail.comMục tiêu: Nhận xét đặc điểm dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng của sản phụ cần cung cấp cho ChatGPT và đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng ChatGPT trong tiên lượng cuộc đẻ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 500 sản phụ được theo dõi, xử trí chuyển dạ tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6 - 12/2025. Dữ liệu được thu thập tại thời điểm khám ban đầu khi nhập viện theo một biểu mẫu và bộ dữ liệu được chuẩn hóa, nhập vào ChatGPT bằng một mẫu câu hỏi thống nhất để dự đoán phương thức sinh. Kết quả: Tỷ lệ đẻ đường âm đạo là 77,6%, mổ lấy thai chiếm 22,4%; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm sản phụ con so và con rạ (p > 0,05). ChatGPT đạt tỷ lệ tiên lượng đúng chung là 90,2% với độ nhạy trong tiên lượng mổ lấy thai là 58,9% và độ đặc hiệu đạt 99,2%. Tiên lượng của bác sĩ có tỷ lệ đúng chung cao hơn (94,4%), độ nhạy đạt 75,0% và độ đặc hiệu đạt 100%. Bác sĩ phát hiện các trường hợp mổ lấy thai tốt hơn ChatGPT, cả hai đều có độ đặc hiệu cao trong tiên lượng sinh đường âm đạo. Kết luận: ChatGPT có độ chính xác tương đối cao và có tiềm năng trở thành công cụ hỗ trợ trong tiên lượng cuộc đẻ.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1851MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ VANCOMYCIN Ở TRẺ MẮC VIÊM MÀNG NÃO DO PHẾ CẦU2026-02-10T01:21:28+07:00Đỗ Thiện Hảidothienhai.vn@gmail.comPhạm Văn ĐếmPhạm Văn ChâuNguyễn Trần Ngọc Hiếumdngochieu2609@gmail.comMục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến thất bại điều trị vancomycin ở trẻ mắc viêm màng não (VMN) do phế cầu (Streptococcus pneumoniae). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 59 bệnh nhi mắc VMN do phế cầu được điều trị bằng vancomycin tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2020 - 2025. Các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ đáy vancomycin được phân tích để xác định các yếu tố liên quan đến không đạt đích nồng độ và thất bại điều trị. Kết quả: Tỷ lệ đạt đích nồng độ đáy vancomycin là 18,6%. Các yếu tố liên quan đến không đạt đích trong phân tích đơn biến gồm cân nặng cao hơn, Glasgow < 12 điểm, thở máy khi vào viện và bạch cầu máu > 15 G/L. Phân tích đa biến cho thấy cân nặng là yếu tố độc lập liên quan đến khả năng đạt đích (OR = 0,6; p = 0,021). Tỷ lệ thất bại điều trị là 22,6%. Protein dịch não tủy (DNT) ≥ 2,5 g/L là yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ thất bại điều trị (OR = 7,8; 95%CI: 1,51 - 40,39; p = 0,014). Kết luận: Tỷ lệ đạt đích nồng độ đáy vancomycin ở trẻ mắc VMN do phế cầu còn thấp. Cần cá thể hóa liều vancomycin và theo dõi nồng độ thuốc sớm nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/2000ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH CHUNG VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ VÀ GIÁ TRỊ DỰ BÁO XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH CẢNH Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÁU CHU KỲ2026-03-30T01:50:26+07:00Nguyễn Thị Thu Hàdrthuha103@gmail.comHoàng Phúc KhămKhamnephrologist@gmail.comVũ Duy KiênKienvulhp99@gmail.comDiêm Thị Vândiemvan1989@gmail.comMục tiêu:Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số hình thái và huyết động động mạch cảnh (ĐMC) với một số yếu tố và giá trị dự báo xơ vữa ĐMC (XVĐMC) ở người bệnh (NB) lọc máu chu kỳ (LMCK). Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứuhồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 99 NB LMCK tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 12/2025.Kết quả:Đường kính ĐMC (ĐKĐMC) chung là 7,34 ± 0,95mm. Độ dày nội trung mạc ĐMC (intima-media thickness - IMT) là 0,87 ± 0,18mm. Tỷ lệ dày IMT là 56,6%, tỷ lệ có mảng XVĐMC là 19,2%. Vận tốc đỉnh tâm thu (peak systolic velocity - PSV) là 93,56 ± 22,51 cm/s, vận tốc cuối tâm trương (EDV) là 26,35 ± 7,7 cm/s và chỉ số trở kháng (RI) là 0,74 ± 0,07. Tuổi tương quan thuận với IMT, ĐKĐMC, RI và tương quan nghịch với chỉ số PSV, EDV (p < 0,01). BMI tương quan thuận với ĐKĐMC và PSV (p < 0,05). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy tuổi cao, đái tháo đường và giảm albumin máu là các yếu tố độc lập liên quan đến XVĐMC (p < 0,05). Tuổi và albumin máu có giá trị dự báo XVĐMC (AUC: 0,875 và 0,725). Kết luận:Chỉ số hình thái và huyết động ĐMC có liên quan đến một số yếu tố ở NB LMCK. Tuổi và albumin máu có giá trị dự báo XVĐMC, trong đó tuổi có giá trị dự báo tốt hơn.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1931CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT CỤC LÂM SÀNG KÉM TRÊN BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP HỆ TUẦN HOÀN TRƯỚC ĐÃ ĐƯỢC TÁI THÔNG BẰNG DỤNG CỤ CƠ HỌC2026-03-16T11:35:29+07:00Ngô Thị Thanh TrúcNguyễn Huy Thắngnguyenhuythang115@gmail.comMục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến kết cục lâm sàng kém trên bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp được tái thông mạch máu bằng dụng cụ cơ học. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 266 BN nhồi máu não cấp do tắc mạch máu lớn được can thiệp nội mạch đạt tái thông thành công (mTICI 2b - 3) tại Khoa Bệnh lý mạch máu não, Bệnh viện Nhân dân 115, nhập viện từ tháng 12/2024 - 7/2025. Các đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng, hình ảnh học và quy trình can thiệp được thu thập. Kết cục lâm sàng được đánh giá bằng thang điểm mRS tại thời điểm 90 ngày. Phân tích hồi quy đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập với kết cục lâm sàng kém. Kết quả: Tỷ lệ BN có kết cục lâm sàng kém (mRS 3 - 6) tại thời điểm 90 ngày chiếm 62,4%. Các yếu tố liên quan độc lập với kết cục lâm sàng kém bao gồm nam giới, tuổi cao, hút thuốc lá, điểm NIHSS cao lúc nhập viện hoặc sau 24 giờ. Kết luận: Kết cục lâm sàng kém sau tái thông mạch máu thành công vẫn còn phổ biến. Nhận diện các yếu tố tiên lượng quan trọng có thể hỗ trợ lựa chọn BN và tối ưu hóa chiến lược điều trị.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1974NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG BIỂU HIỆN LÂM SÀNG, XÉT NGHIỆM CỦA U LYMPHO TẾ BÀO B LỚN VÀ U LYMPHO HODGKIN THỂ CỔ ĐIỂN NGUYÊN PHÁT TRUNG THẤT2026-03-12T00:45:07+07:00Nguyễn Ngọc Dũngbsdungnihbt0874@gmail.comPhạm Thị Nguyệtphamnguyethmu2012@gmail.comMục tiêu: So sánh đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm giữa nhóm bệnh nhân (BN) mắc u lympho tế bào B lớn nguyên phát trung thất (primary mediastinal large B-cell lymphoma - PMBCL) và u lympho Hodgkin thể cổ điển (classical Hodgkin lymphoma - CHL) nguyên phát trung thất. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, so sánh trên 20 BN được chẩn đoán PMBCL và 11 BN được chẩn đoán CHL nguyên phát trung thất tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2020 - 2025. Kết quả: Nhóm PMBCL có xu hướng gặp nhiều ở nữ giới trẻ tuổi. Tỷ lệ gặp biến chứng tràn dịch màng phổi, màng tim, khối u kích thước lớn (> 10cm) và nồng độ LDH (lactate dehydrogenase) tăng ở nhóm PMBCL cao hơn so với nhóm CHL. Về mô bệnh học, PMBCL đặc trưng với tế bào u phân bố lan tỏa, tế bào sáng (clear cell), trong khi CHL chủ yếu gặp nền viêm và RS (Reed-Sternberg)/RS-like cell (tế bào dạng Reed-Sternber). Đặc điểm biểu hiện của các marker hóa mô miễn dịch cũng rất có giá trị trong chẩn đoán phân biệt PMBCL và CHL. Kết luận: Mặc dù PMBCL và CHL trung thất có nhiều điểm tương đồng chồng lấp nhưng vẫn tồn tại các đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm giúp định hướng phân biệt.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1952HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TIÊU SỢI HUYẾT ĐƯỜNG TĨNH MẠCH Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO CẤP KHÔNG RÕ THỜI ĐIỂM KHỞI PHÁT CÓ BẤT TƯƠNG XỨNG XUNG KHUẾCH TÁN - XUNG ĐẢO CHIỀU XÓA DỊCH TRÊN PHIM CỘNG HƯỞNG TỪ SỌ NÃO2026-03-03T08:07:40+07:00Vũ Văn Huỳnhbsvuhuynh103@gmail.comNguyễn Đăng Hảibshainguyen@gmail.comNguyễn Huy NgọcĐặng Phúc Đứcbsphucduc@gmail.comNguyễn Minh HiếuMục tiêu:Đánh giá hiệu quả điều trị tiêu sợi huyết (TSH) đường tĩnh mạch ở người bệnh (NB) đột quỵ nhồi máu não (NMN) cấp không rõ thời điểm khởi phát có bất tương xứng xung khuếch tán - xung đảo chiều xóa dịch (bất tương xứng DWI-FLAIR) trên hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sọ não. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 40 NB đột quỵ NMN cấp không rõ thời điểm khởi phát có bất tương xứng DWI-FLAIR trên MRI sọ não được điều trị TSH đường tĩnh mạch tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8/2025 - 3/2026. Kết quả: Có 22 NB nam (55%), tuổi trung bình là 67,5 ± 12,4. Điểm GCS (Glasgow Coma Scale), MRC (Medical Research Council) tăng lên có ý nghĩa thống kê khi ra viện so với khi vào viện (p < 0,05). Điểm NIHSS trung bình giảm dần sau 1 giờ, 24 giờ TSH và khi ra viện (p < 0,05) so với thời điểm nhập viện. Sau điều trị, 30/40 NB (75%) có điểm NIHSS giảm > 4 điểm khi ra viện, 72,5% NB có mRS ở mức 0 - 1 điểm. Không có NB nào tử vong, 2 NB chảy máu tạng nghiêm trọng và 3 NB chảy máu não sau điều trị. Kết luận: Điều trị đột quỵ NMN cấp không rõ thời điểm khởi phát có bất tương xứng DWI-FLAIR trên MRI sọ não bằng TSH đường tĩnh mạch có hiệu quả tốt. Cần thực hiện thêm các nghiên cứu để đánh giá kết cục lâu dài ở nhóm BN này.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1903MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HUYẾT KHỐI ĐỘNG MẠCH HỆ THỐNG Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ KHÔNG DO BỆNH VAN TIM ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ THUỐC KHÁNG ĐÔNG TÁC DỤNG TRỰC TIẾP ĐƯỜNG UỐNG2026-03-06T03:37:06+07:00Hoàng Huy Trườngtruonghh@pnt.edu.vnLê Hải Thạchehaithach02@gmail.comLê Công Tấnlecongtan1708@gmail.comMục tiêu: Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến huyết khối động mạch hệ thống (HKĐMHT) ở bệnh nhân (BN) rung nhĩ (RN) không do bệnh van tim được điều trị bằng thuốc kháng đông tác dụng trực tiếp đường uống (direct oral anticoagulant - DOAC). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 182 BN RN không do bệnh van tim, có chỉ định điều trị bằng DOAC tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 12/2023 - 6/2025. Các BN được theo dõi trong thời gian 12 tháng. Biến cố kết cục chính là HKĐMHT. Phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Tuổi trung vị của BN là 77 (IQR: 68 - 84), nữ giới chiếm 54,4%. Tỷ lệ HKĐMHT trong thời gian theo dõi là 4,9%. Trong phân tích đa biến, tuổi ≥ 85 (OR = 16,27; 95%CI: 2,92 - 90,61; p = 0,001) và tiền căn đột quỵ thiếu máu não (ĐQTMN) (OR = 6,53; 95%CI: 1,32 - 32,36; p = 0,022) là các yếu tố liên quan độc lập với HKĐMHT. Kết luận: Ở BN RN không do bệnh van tim được điều trị bằng DOAC, nguy cơ HKĐMHT vẫn ở mức đáng kể. Nhóm BN rất cao tuổi và có tiền căn ĐQTMN cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ hơn trong thực hành lâm sàng.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1848NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VI SINH VÀ MỨC ĐỘ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG Ở BỆNH NHI THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ BAN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP2026-03-05T05:48:02+07:00Trần Quang Khảitqkhai@ctump.edu.vnNguyễn Thị Kim Thoabskimthoa84@gmail.comMục tiêu: Xác định tỷ lệ các tác nhân vi sinh và mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) ở bệnh nhi thất bại điều trị ban đầu. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 bệnh nhi từ 2 tháng đến < 16 tuổi mắc VPCĐ thất bại với kháng sinh kinh nghiệm ban đầu sau 72 giờ từ tháng 6/2024 - 5/2025 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp. Bệnh phẩm dịch hút khí quản qua mũi (nasotracheal aspiration - NTA) được nuôi cấy phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Kết quả: Tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 51,0% (50/98). Các vi khuẩn được phân lập chính là H. influenzae (38,0%), S. pneumoniae (22,0%) và S. aureus (22,0%). Tỷ lệ đề kháng cao được ghi nhận: 94,7% H. influenzae kháng trimethoprim/sulfamethoxazolevà 89,5% kháng ampicillin; 100% S. pneumoniae kháng erythromycin; 100% chủng S. aureus phân lập được là MRSA (kháng cefoxitin). Tuy nhiên, S. pneumoniae, S. aureus vẫn còn nhạy cảm cao với vancomycin và linezolid (100%). Kết luận: H. influenzae, S. pneumoniae và S. aureus là những tác nhân vi khuẩn hàng đầu được phân lập từ nuôi cấy ở bệnh nhi mắc VPCĐ thất bại điều trị ban đầu, với tỷ lệ đề kháng rất cao đối với các kháng sinh thường dùng trong điều trị kinh nghiệm.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1929MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN GIA TĂNG THỂ TÍCH KHỐI MÁU TỤ Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT NÃO TỰ PHÁT2026-03-20T06:38:08+07:00Lê Kim KhánhNguyễn Huy Thắngnguyenhuythang115@gmail.comMục tiêu: Xác định mối tương quan giữa vị trí xuất huyết (thùy não so với không thùy não) và sự gia tăng thể tích khối máu tụ (hematoma expansion - HE) trong giai đoạn cấp. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 151 bệnh nhân (BN) xuất huyết não (XHN) tự phát nhập viện trong 6 giờ đầu tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định và Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 01 - 9/2020. BN được chụp cắt lớp vi tính (computed tomography - CT) sọ não lúc nhập viện và kiểm tra lần 2 trong vòng 36 giờ. HE được xác định khi thể tích khối máu tụ tăng ≥ 33% so với ban đầu. Kết quả: Tỷ lệ HE chung là 25,8%. Nhóm BN XHN thùy có tỷ lệ HE cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm BN XHN không thùy (34,9% so với 18,8%; p = 0,026). Phân tích đa biến cho thấy vị trí XHN thùy (p = 0,02) và huyết áp tâm thu (HATT) ban đầu cao (p = 0,004) là các yếu tố tiên lượng độc lập cho HE. Nhóm XHN thùy cũng có tỷ lệ kết cục xấu (mRS > 3) cao hơn tại ngày thứ 30. Kết luận: Vị trí xuất huyết tại thùy não có liên quan chặt chẽ với nguy cơ HE và kết cục lâm sàng xấu tại ngày thứ 30.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1951KHẢO SÁT CHỈ SỐ BRI (BODY ROUNDNESS INDEX) Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 PHÁT HIỆN LẦN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 1032026-03-03T08:28:50+07:00Ninh Vân Anhvananhninh96@gmail.comĐoàn Việt CườngMục tiêu: Khảo sát chỉ số BRI (body roundness index) và mối liên quan với một số chỉ số nhân trắc học truyền thống ở bệnh nhân (BN) đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 phát hiện lần đầu.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có so sánh đối chứng trên 207 đối tượng, gồm 107 BN ĐTĐ type 2 phát hiện lần đầu và 100 người khỏe mạnh tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 6 - 12/2025.Kết quả: Chỉ số BRI ở nhóm bệnh cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (4,25 so với 3,80; p < 0,001). BRI có mối tương quan chặt chẽ với vòng eo (waist circumference - WC), tỷ số vòng eo/vòng mông (waist-to-hip ratio - WHR) và tỷ số vòng eo/chiều cao (waist-to-height ratio - WHtR) và tương quan mức trung bình với chỉ số khối cơ thể (body mass index - BMI). Sự khác biệt về BRI giữa hai nhóm thể hiện rõ nhất ở các đối tượng có BMI < 23 kg/m² và không béo bụng theo WC.Nhóm bệnh có chỉ số BRI cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng ở nhóm < 60 tuổi và ở cả hai giới. Kết luận:Chỉ số BRI có liên quan chặt với các chỉ số nhân trắc học phản ánh béo phì trung tâm và cao hơn ở BN ĐTĐ type 2 phát hiện lần đầu so với người khỏe mạnh, đặc biệt ở các đối tượng chưa biểu hiện béo phì rõ rệt theo các chỉ số nhân trắc học truyền thống.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1792ẢNH HƯỞNG CỦA SUY YẾU TRÊN CÁC KẾT CỤC NGẮN HẠN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI GÃY LÚN ĐỐT SỐNG DO LOÃNG XƯƠNG2026-02-10T01:47:40+07:00Nguyễn Thị Thùy Trangtrangnguyenydk97@gmail.comNguyễn Châu Tuấntuan.nc2@umc.edu.vnCao Thanh Ngọccaothanhngoc@gmail.comMục tiêu: Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tình trạng suy yếu lên các kết cục ngắn hạn gồm mức độ đau, té ngã và nhập viện ở bệnh nhân (BN) cao tuổi bị gãy lún đốt sống (GLĐS) mới do loãng xương. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc 3 tháng trên 187 BN ≥ 60 tuổi, GLĐS do loãng xương tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2024 - 6/2025. Suy yếu được đánh giá bằng thang điểm suy yếu lâm sàng (clinical frailty scale - CFS); mức độ đau được đo bằng thang điểm VAS (visual analog scale). Kết quả: Tỷ lệ suy yếu (CFS ≥ 5) là 62,0%. Điểm VAS trung vị giảm từ 5 xuống 3 sau 3 tháng (p < 0,001); 85,7% BN giảm đau, 9,9% không thay đổi và 4,4% tăng mức độ đau. Tỷ lệ té ngã ở nhóm suy yếu cao hơn so với nhóm không suy yếu (8,0% so với 2,8%; p = 0,207). Tỷ lệ nhập viện ở nhóm suy yếu cao gấp 2 lần so với nhóm không suy yếu (31,86% so với 15,49%; p = 0,013). Kết luận: Suy yếu xảy ra phổ biến ở BN cao tuổi GLĐS do loãng xương và là yếu tố liên quan đến kết cục lâm sàng bất lợi. Cần sàng lọc sớm các trường hợp suy yếu để tối ưu hóa điều trị.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1862MỐI LIÊN QUAN GIỮA TIỀN SỬ GIA ĐÌNH MẮC TĂNG HUYẾT ÁP VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN2026-02-06T07:14:54+07:00Hà Thị Thanh Tranghtttrang@ttn.edu.vnMục tiêu: Mô tả mức độ chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định mối liên quan giữa tiền sử gia đình có người mắc tăng huyết áp (THA) với các lĩnh vực CLCS ở bệnh nhân (BN) THA điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu trên 209 BN THA ≥ 18 tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên từ tháng 01 - 6/2023. Kết quả: Phần lớn BN có CLCS ở mức trung bình (70,3%), với điểm trung bình CLCS chung cho 4 lĩnh vực là 54,97 ± 13,08. Xét theo từng lĩnh vực, điểm CLCS trung bình của lĩnh vực sức khỏe thể chất là 52,86 ± 16,26; lĩnh vực tâm lý là 52,90 ± 15,65; lĩnh vực quan hệ xã hội là 59,77 ± 13,15 và lĩnh vực môi trường là 54,33 ± 13,26. Phân tích mối liên quan cho thấy tiền sử gia đình mắc THA có liên quan đến CLCS ở lĩnh vực tâm lý. Kết luận: Phần lớn đối tượng trong nghiên cứu có CLCS ở mức chưa cao (74,6%). Trong đó, tỷ lệ CLCS đạt mức trung bình chiếm ưu thế (70,3%). Tiền sử có gia đình mắc THA được xác định là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến CLCS lĩnh vực tâm lý.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1917BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: KẾT QUẢ ĐẶT SHUNT DẪN LƯU MÀNG PHỔI - BUỒNG ỐI ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI THAI NHI2026-02-10T02:52:51+07:00Phan Thị Huyền Thươngphanhuyenthuong@gmail.comĐỗ Tuấn Đạtdrdodat@gmail.comMai Trọng Hưngbacsymaitronghung@gmail.comĐinh Thúy LinhNghiên cứu mô tả kết quả đặt shunt dẫn lưu màng phổi - buồng ối điều trị tràn dịch màng phổi (TDMP) thai nhi thành công tại Trung tâm Can thiệp Bào thai, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Báo cáoca lâm sàng này được thực hiện trên01 bệnh nhân (BN) mang thai tự nhiên được chẩn đoán TDMP trái ở tuần thứ 22. BN được chọc ối làm xét nghiệm di truyền cho kết quả Karyotype, kỹ thuật phân tích microarray (Array), Cytomegalovirus (CMV) và Parvovirus B19, Real-time PCR không phát hiện bất thường. Siêu âm thai 25 tuần 3 ngày thấy TDMP trái nặng gây xẹp phổi, chèn ép tim và đã được đặt shunt dẫn lưu màng phổi trái - buồng ối. Sau thủ thuật, siêu âm ngoại trú thấy phổi trái có lớp dịch mỏng và hết sau vài tuần, phổi nở tốt, shunt dẫn lưu đúng vị trí. Mổ lấy thai ở tuần thứ 34 do chuyển dạ, trẻ nặng 2.350g, Apgar 9 - 10. Sau sinh, shunt dẫn lưu được rút ra và hình ảnh X-quang thấy phổi nở tốt, không mờ góc sườn hoành. Điều trị TDMP thai nhi bằng phương pháp đặt shunt màng phổi - buồng ối là lựa chọn điều trị khả thi, ít xâm lấn. Đây là một trong những ca bệnh đầu tiên được báo cáo tại Việt Nam nhấn mạnh những lợi ích tiềm tàng của đặt shunt dẫn lưu sớm, giúp giảm các rủi ro và cải thiện kết quả chu sinh.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1883ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KETAMINE LIỀU DUY NHẤT TRONG GIẢM ĐAU ĐA MÔ THỨC SAU MỔ Ở BỆNH NHÂN NÂNG NGỰC BẰNG TÚI ĐỘN2026-02-24T07:33:24+07:00Võ Văn Hiểnvanhien103@gmail.comTrần Phi Hùngtranphi99pldl@gmail.comMục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của ketamine liều duy nhất trong giảm đau đa mô thức sau phẫu thuật nâng ngực bằng túi độn. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng trên 128 bệnh nhân (BN) có sức khỏe trước mổ ASA I - II (theo Phân loại của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ - ASA), được phẫu thuật nâng ngực bằng túi độn dưới cơ ngực lớn tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01 - 11/2025. Nhóm 1 (n = 64) được tiêm tĩnh mạch ketamine liều duy nhất 0,6 mg/kg khi kết thúc cuộc mổ, kết hợp giảm đau sau mổ bằng phương pháp BN tự điều khiển đường tĩnh mạch (intravenous patient controlled analgesia: IV-PCA) fentanyl; nhóm 2 (n = 64) chỉ dùng giảm đau sau mổ bằng IV-PCA fentanyl đơn thuần. Đánh giá điểm đau theo thang điểm đau VAS (visual analog scale) khi nghỉ và vận động, tổng liều fentanyl, số lần bolus, nhu cầu giải cứu đau, tác dụng không mong muốn trong 24 giờ đầu sau mổ. Kết quả: Tổng lượng fentanyl tiêu thụ ở nhóm 1 thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 2 (405,9 ± 57,0µg so với 662,5 ± 82,2µg; p < 0,05), số lần thực hiện bolus thêm thuốc giảm đau thấp hơn ở nhóm 1, điểm VAS ở hai nhóm là tương đương nhau. Tỷ lệ BN buồn nôn, chóng mặt không khác biệt giữa hai nhóm, không ghi nhận trường hợp BN nào có ảo giác. Kết luận: Ketamine liều duy nhất giúp giảm đáng kể nhu cầu opioid sau phẫu thuật nâng ngực mà không làm tăng tác dụng phụ, là thành phần hiệu quả trong phác đồ giảm đau đa mô thức theo hướng hạn chế opioid.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1906KẾT CỤC THAI KỲ VÀ TÌNH TRẠNG SAU SINH CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP THAI NHI CÓ GIÃN NÃO THẤT ĐƠN THUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI2026-02-24T04:57:59+07:00Mai Trọng Hưngbacsymaitronghung@gmail.comNguyễn Tài Đứctaiduc.hogh@gmail.comNguyễn Hùngdrhung59@gmail.comĐinh Thúy Linhdrdinhlinhobgyn@gmail.comMục tiêu:Đánh giá hướng xử trí, kết cục thai kỳ và tình trạng sau sinh của các trường hợp thai nhi có giãn não thất (GNT) đơn thuần. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 119 thai phụ có thai được chẩn đoán GNT đơn thuần tại Trung tâm Sàng lọc, Chẩn đoán Trước sinh và Sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 01/2022 - 12/2023. Các trường hợp được theo dõi kết cục đến 6 tháng sau sinh. Kết quả:Tỷ lệ giữ thai chiếm 84%, đình chỉ thai là 16%. Các yếu tố liên quan đến quyết định đình chỉ thai bao gồm tuổi thai phát hiện sớm (p < 0,001), mức độ GNT nặng (p < 0,001), GNT hai bên (p < 0,001), có bất thường di truyền. 100% trường hợp GNT một bên được giữ thai. Trong nhóm giữ thai, có 97,0% thai nhi sống khỏe không cần can thiệp, 87,9% trẻ không còn GNT sau sinh, sau 6 tháng chỉ còn 2,0% trường hợp có GNT. Kết luận:Đa số thai GNT đơn thuần có kết cục thai kỳ tốt với tỷ lệ giữ thai cao (84,0%). Các yếu tố liên quan đến quyết định đình chỉ thai bao gồm tuổi thai phát hiện sớm, mức độ GNT nặng, GNT hai bên và bất thường di truyền. Sau 6 tháng theo dõi, chỉ còn 2,0% trẻ có GNT. GNT đơn thuần mức độ nhẹ và một bên có tiên lượng tốt.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1884KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT XƯƠNG HAI VỊ TRÍ ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG GÒ MÁ TOÀN BỘ2026-03-10T06:53:24+07:00Nguyễn Hùng Thắngnguyenthangb8@gmail.comĐặng Minh Vươngdrmv103@gmail.comMục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật kết xương gò má hai vị trí trong điều trị gãy xương gò má toàn bộ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 55 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán gãy xương gò má toàn bộ, được phẫu thuật kết xương hai vị trí tại Khoa Hàm mặt, Tạo hình, Bệnh viện Quân y 103 (BVQY103) từ tháng 01 - 7/2025. Kết quả:Độ tuổi thường gặp là từ 20 - 40 (47,3%), đa số là nam giới (87,3%), nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông (90,9%). Loại hình gãy được lựa chọn là gãy gò má toàn bộ có di lệch xoay, tương ứng nhóm IV, V theo phân loại Knight - North. Đa số BN có kết quả điều trị về thẩm mỹ và chức năng tốt gồm gò má cân đối (90,9%), liền vết mổ tốt (85,5%), hình ảnh X-quang xương gò má đạt kết quả tốt (92,7%), sẹo sau mổ tốt (100%), há miệng tốt (100%), chức năng thần kinh tốt (96,4%), thị lực tốt (96,4%).Kết luận: Phẫu thuật kết xương hai vị trí điều trị gãy xương gò má toàn bộ cho kết quả tốt về chức năng và thẩm mỹ, có thể áp dụng cho đa số BN gãy xương gò má toàn bộ trên lâm sàng.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1955GIÁ TRỊ TIÊN ĐOÁN CỦA CHỈ SỐ TƯỚI MÁU NGOẠI VI TRONG DỰ BÁO TỤT HUYẾT ÁP SAU KHỞI MÊ Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI PHẪU THUẬT Ổ BỤNG2026-03-05T02:27:37+07:00Nguyễn Đăng Thứnguyendangthu@vmmu.edu.vnTrần Hoài NamVõ Văn HiểnTrần Đắc Tiệptrandactiepsky@gmail.comMục tiêu: Xác định giá trị tiên đoán của chỉ số tưới máu ngoại vi (perfusion index - PI) trong dự báo tụt huyết áp sau khởi mê ở bệnh nhân (BN) cao tuổi phẫu thuật ổ bụng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, quan sát trên 120 BN ≥ 65 tuổi, ASA I - III, phẫu thuật gan mật và tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 01 - 11/2025. Giá trị PI nền được ghi nhận trước khởi mê. Tụt huyết áp được xác định khi huyết áp trung bình (HATB) < 65mmHg hoặc giảm ≥ 30% so với huyết áp nền trong 5 phút đầu sau tiêm propofol. Phân tích ROC và hồi quy logistic đa biến được sử dụng. Kết quả: Tỷ lệ tụt huyết áp sau khởi mê là 43,3%. Nhóm tụt huyết áp có PI nền thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm không tụt huyết áp (2,12 ± 0,78 so với 3,41 ± 0,96; p < 0,001). Diện tích dưới đường cong ROC (AUC) đạt 0,790 (95%CI: 0,708 - 0,872). Ngưỡng PI = 2,54 cho độ nhạy là 79,4% và độ đặc hiệu là 69,2%. PI ≤ 2,54 là yếu tố tiên đoán độc lập của tụt huyết áp (OR = 4,35; 95%CI: 2,01 - 9,41; p < 0,001), cùng với ASA II - III và liều propofol. Kết luận: PI nền là yếu tố tiên đoán độc lập tụt huyết áp sau khởi mê ở BN cao tuổi phẫu thuật ổ bụng. Đánh giá PI trước khởi mê có thể giúp phân tầng nguy cơ và điều chỉnh chiến lược gây mê nhằm tăng cường an toàn chu phẫu.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1940MỐI LIÊN QUAN CỦA THIẾU MÁU TRƯỚC PHẪU THUẬT VỚI BIẾN CHỨNG SỚM SAU PHẪU THUẬT VÀ RÒ MIỆNG NỐI SAU CẮT THỰC QUẢN NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN2026-02-26T09:07:32+07:00Nguyễn Văn Tiệpchiductam@gmail.comNguyễn Anh TuấnNgô Gia Khánhngokhanhhd@gmail.comMục tiêu:Đánh giá mối liên quan của thiếu máu trước phẫu thuật (PT) với biến chứng sớm sau PT và rò miệng nối sau cắt thực quản nội soi điều trị ung thư thực quản. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả trên 152 bệnh nhân (BN) được PT cắt thực quản tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn từ tháng 3/2012 - 12/2025. Thiếu máu trước PT được xác định và phân loại theo mức độ nghiêm trọng. Mối liên quan giữa thiếu máu trước PT và biến chứng sớm sau PT được phân tích bằng hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu trước PT là 42,1%. Tỷ lệ BN có biến chứng sớm sau PT là 28,9%, sự khác biệt không có ý nghĩa giữa nhóm thiếu máu và không thiếu máu (32,8% so với 26,1%; OR = 1,38; p = 0,37). Tỷ lệ rò miệng nối cao hơn rõ rệt ở nhóm thiếu máu so với nhóm không thiếu máu trước PT (18,8% so với 4,5%; OR = 4,85; p = 0,005). Phân tích đa biến cho thấy thiếu máu trước PT là yếu tố làm tăng tỷ lệ rò miệng nối (OR = 7,86; 95%CI: 1,97 - 31,45; p = 0,004), nhưng không liên quan độc lập với biến chứng sau PT chung. Kết luận: Thiếu máu trước PT không làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ biến chứng sớm sau PT, nhưng là yếu tố làm tăng tỷ lệ rò miệng nối sau PT cắt thực quản triệt căn.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1819MỨC ĐỘ HỢP TÁC Ở TRẺ EM CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ NHA KHOA DƯỚI GÂY MÊ TẠI VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT, ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VÀ BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI TỪ NĂM 2023 - 20242026-01-16T07:45:54+07:00Trương Hoàng Lệ Thuỷthuythl@hiu.vnNguyễn Thu Thủybsthuy1310@gmail.comNguyễn Quang Bìnhnguyenbinh3010@gmail.comNguyễn Vũ Anhanhnguyen852002@gmail.comVõ Trương Như Ngọcvotruongnhungoc@gmail.comNguyễn Văn Anhnguyenvananhdds@gmail.comMục tiêu:Nghiên cứu mức độ hợp tác của trẻ em điều trị nha khoa có chỉ định gây mê. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 trẻ em < 16 tuổi, đánh giá hành vi theo Thang điểm Phân độ Hành vi của Frankl (rất tiêu cực, tiêu cực, tích cực và rất tích cực) trước và khi được khám tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nộitừ tháng 7/2023 - 5/2024. Kết quả: Tuổi trung bình của trẻ là 4,9 ± 1,45; trẻ em có hàm răng sữa chiếm 76%, chỉ số DMFT (Decayed, Missing, Filled Teeth) trung bình là 16,74 ± 4,78. Lý do chính gây mê là đa sâu răng (80%) và không hợp tác (94%). Trước khám, tỷ lệ trẻ em có thái độ tích cực là 64% nhưng khi khám giảm còn 6%; tỷ lệ rất tiêu cực và tiêu cực tăng lên lần lượt là 32% và 62%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hợp tác theo tuổi (p = 0,85) hoặc giới tính (p = 0,603). Kết luận: Tỷ lệ trẻ em có hành vi tiêu cực cao khi khám nên bác sĩ cần chú trọng kỹ năng quản lý hành vi để giảm chỉ định điều trị nha khoa dưới gây mê.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1816KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT NỘI SOI HOÀN TOÀN NGOÀI PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN BẰNG LƯỚI NHÂN TẠO2026-03-16T11:50:34+07:00La Văn Phúlvphu@ctump.edu.vnNguyễn Thị Bạch Maidd.nguyenthibachmai@gmail.comLê Trung Hiếuliversurg108@gmail.comNguyễn Văn Quỳnhquynh44ahvqy@gmail.comMục tiêu: Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (totally extraperitoneal - TEP) điều trị thoát vị bẹn (TVB) bằng lưới nhân tạo và xác định các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 86 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật nội soi TEP từ tháng 01/2024 - 9/2025 tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Kết quả: Tuổi trung bìnhlà 44,9 ± 12,4; BN nam chiếm 96,5%; thoát vị một bên chiếm 91,9%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 54,6 ± 11,3 phút; tỷ lệ biến chứng là 16,3%; thời gian nằm viện trung bình là 2,6 ± 1,3 ngày. Tỷ lệ chất lượng cuộc sống (CLCS) tốt chiếm 93,0%, chưa tốt chiếm 7,0%. Các yếu tố liên quan đến CLCS chưa tốt bao gồm bệnh nội khoa kèm theo (p < 0,05), TVB hai bên, có tiền sử phẫu thuật vùng bẹn và thời gian phục hồi > 48 giờ (p < 0,01). Kết luận: Phẫu thuật nội soi TEP điều trị TVB là an toàn và hiệu quả. Cần đánh giá kết quả xa bao gồm CLCS sau phẫu thuật.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sựhttps://jmpm.vn/index.php/jmpm/article/view/1942ĐẶC ĐIỂM NHIỄM KHUẨN ACINETOBACTER BAUMANNII VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG2026-03-16T00:40:38+07:00Trần Đình Hùnghung73vb@yahoo.com.vnNgô Tuấn Hưngtuanhungvb@gmail.comTrần Đình TrungMục tiêu: Đánh giá đặc điểm nhiễm khuẩn (NK) Acinetobacter baumannii (A. baumannii) và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) bỏng nặng. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 46 BN bỏng nặng điều trị tại Khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 2023. Kết quả:Vi khuẩn (VK) A. baumannii là căn nguyên chính gây NK huyết (sepsis) trên BN bỏng nặng (mẫu máu: 40,74% và sinh thiết vết thương: 50,00%). Tỷ lệ VK A. baumannii đa kháng là 100%. Giá trị trung vị nồng độ procalcitonin ở BN sepsis do A. baumannii là 3,61 ng/mL, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sepsis do VK khác (p < 0,01). Giảm mỗi 1 ng/mL nồng độ procalcitonin và 1 mmol/L natri máu làm tăng khả năng sepsis do A. baumannii lần lượt 1,01 và 1,10 lần (p < 0,05). Kết luận: Tất cả BN nhiễm vi khuẩn A. baumannii đa kháng. Nồng độ procalcitonin và natri huyết tương là các yếu tố liên quan đến NK do A. baumannii ở BN bỏng nặng.Copyright (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Quân sự